Bảo tồn hải mã - 'báu vật' của đại dương

Dọc các vùng biển miền Trung, đặc biệt tại thành phố Huế, cá ngựa (hải mã) không chỉ là nguồn sinh kế phụ của nhiều ngư dân mà còn là chỉ dấu của một hệ sinh thái biển khỏe mạnh.

Mỗi lần gặp ngư dân trẻ Trần Văn Cường, đồng thời là Chủ tịch Nghiệp đoàn nghề cá phường Thuận An, anh luôn say sưa kể về hải mã. Ở tuổi ngoài ba mươi, Cường đã có hơn 15 năm lênh đênh trên sóng nước. Nhìn về phía những con thuyền neo gần bờ, Cường vui vẻ kể về sự “may mắn” gặp cá ngựa: “Ở vùng biển mình có cá ngựa, nhưng người dân đi biển có ai bắt thứ này đâu. Chỉ là lâu lâu trong lúc bủa lưới, kéo lên thấy một vài con mắc vào. Có bữa trúng được vài chục con, còn không cả tháng chẳng gặp con nào”.

Cường bảo, cá ngựa xuất hiện tự nhiên như cách biển thỉnh thoảng trao cho ngư dân một món quà nho nhỏ. Không ai đi tìm nhưng lại được gặp. Không ai săn đuổi nhưng có lúc tự rơi vào lưới. Những khoảnh khắc ấy khiến bà con xứ biển vừa thích thú, nhưng cũng xen lẫn chút xót xa vì chúng nhỏ bé và yếu ớt quá.

Riêng Cường có thói quen mà không phải ai cũng giữ được khi anh bảo: “Con nào còn sống là tui thả xuống nước hết. Chỉ những con chết mới đem về. Chứ ngư dân mà hại biển thì còn chi để sống?”. Câu nói đơn giản mà như ôm trọn cả cái tình với bao la biển cả.

Cá ngựa - hay còn gọi bằng cái tên mỹ miều là hải mã, từ lâu đã hiện diện trong những câu chuyện truyền miệng ở nhiều vùng biển Việt Nam. Thân hình mềm nhỏ, dáng đứng thẳng, đôi mắt đen long lanh, chiếc đuôi dài cong lại như cái móc - tất cả khiến cá ngựa trở thành "báu vật của đại dương".

Giá trị kinh tế cũng là lý do khiến cá ngựa bị săn bắt nhiều. Một con cá ngựa nhỏ bằng ngón tay giá đã vài trăm nghìn. Bà con đi biển, nhất là những người sống dựa hoàn toàn vào con nước, chỉ cần bắt được vài chục con thôi là có thêm khoản thu nhập đáng kể.

Nhưng rất ít người biết được rằng, một số loài cá ngựa ở Việt Nam đang nằm trong Sách đỏ, mức độ nguy cấp khác nhau. Chúng là chỉ báo sống cho tình trạng của cỏ biển và rạn san hô. Khi môi trường biển suy kiệt, cá ngựa là loài biến mất đầu tiên. Điều đáng lo hơn cả là ngư dân thường không thể phân biệt được loài nào quý, loài nào hiếm để bảo tồn.

PGS.TS. Mạc Như Bình - Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế là một trong số ít các nhà khoa học, chuyên gia về thủy sản cho biết, Huế chưa từng có một cuộc khảo sát quy mô nào để đánh giá đầy đủ về cá ngựa. Tất cả những thông tin hiện có chỉ là dự đoán dựa trên dữ liệu của vùng lân cận.

Theo những ghi nhận, vùng biển miền Trung có thể tồn tại từ 5 - 7 loài cá ngựa. Trong đó, phổ biến nhất là là cá ngựa đen, cá ngựa vằn, cá ngựa gai, cá ngựa ba chấm, cùng một vài loài hiếm hơn như H. kelloggi, H. spinosissimus, H. mohnikei. Trong danh sách này, nhiều loài được xếp vào nhóm sắp nguy cấp (Vulnerable), số khác còn thiếu dữ liệu (Data Deficient). Song điểm chung của tất cả các loài cá ngựa là cần được bảo vệ. Thế nhưng, thực tế cho thấy hiện vẫn còn những khoảng trống dữ liệu, không biết có những loài nào, sống ở đâu, số lượng bao nhiêu… thì mọi biện pháp bảo tồn đều khó bắt đầu.

Cá ngựa không sống ở vùng nước sâu, cũng chẳng thích những nơi biển động. Chúng lặng lẽ trú ngụ ở thảm cỏ biển và rạn san hô - những “tòa nhà” tự nhiên giúp chúng bám chặt; các vùng cửa sông, bãi triều, nơi nước chảy chậm và yên, hay đáy biển nông, nhiều rong tảo. Đây đều là những hệ sinh thái nhạy cảm. Chỉ một chiếc tàu kéo lưới đáy đi qua, một đợt nạo vét luồng lạch, hay một trận xả thải ven bờ… cũng có thể khiến chúng tổn thương nghiêm trọng. Ngư dân Thuận An rất hiểu điều này. Họ là những người đầu tiên nhìn thấy thảm cỏ biển thu nhỏ lại qua từng năm, rạn san hô bạc dần, những mảng rong tảo giảm đi rõ rệt sau mỗi mùa mưa bão.

“Biển bây giờ khác xưa nhiều lắm. Cá nhỏ hơn, mùa cá ngắn hơn, cây cỏ dưới đáy cũng ít đi. Cá ngựa chắc cũng vì vậy mà hiếm dần”, Cường tiếc nuối.

Trước đây, có một nghiên cứu từng ước tính Việt Nam khai thác từ 10 - 17 triệu con cá ngựa mỗi năm. Con số khổng lồ này chủ yếu đến từ các nghề lưới kéo đáy, thu gom làm dược liệu, bán khô làm quà lưu niệm và thị trường xuất khẩu. Huế không phải điểm nóng của việc khai thác cá ngựa, nhưng các yếu tố nguy hiểm vẫn đang hiện hữu, khi mà lưới kéo đáy tiếp tục hoạt động gần bờ, cỏ biển và san hô tiếp tục mất dần, thị trường thu mua vẫn âm thầm tồn tại.

Bên cạnh đó, trong dân gian, cá ngựa được xem là vị thuốc quý. Dù khoa học chưa chứng minh đầy đủ về tác dụng của cá ngựa, song nhu cầu thị trường tiêu thụ loài cá này vẫn rất cao. Cá ngựa khô bày bán ở nhiều chợ hải sản. Một số tỉnh, thành từng xuất khẩu số lượng lớn... Những nguy cơ hiện hữu này có thể khiến cá ngựa suy giảm nghiêm trọng. Vì thế, bảo tồn cá ngựa là hành trình cần bắt đầu từ hôm nay.

PGS.TS Mạc Như Bình và các chuyên gia đề xuất chuỗi giải pháp như: Lặn định điểm, khảo sát nhanh sinh vật đáy, ghi nhận loài, mật độ, vùng phân bố. Trong giữ và phục hồi thảm cỏ biển cần khôi phục rạn san hô, xây dựng khu bảo tồn biển diện tích nhỏ, giảm nghề lưới kéo đáy, tăng giám sát vùng khai thác.

Một giải pháp bảo tồn hiệu quả nữa là hiện một số tỉnh, thành ở khu vực miền Trung đã nuôi thành công cá ngựa, góp phần giảm tình trạng đánh bắt, khai thác cá ngựa ở môi trường tự nhiên. Bên cạnh đó, để bảo tồn loài hải mã này một cách bền vững, các địa phương cần tăng cường thực thi pháp lý CITES - Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp bằng việc yêu cầu các cơ quan chức năng kiểm soát chặt chẽ việc buôn bán cá ngựa. Đồng thời, chú trọng tuyên truyền, giáo dục cộng đồng nhằm giảm sử dụng cá ngựa làm thuốc, rượu, khuyến khích việc thả cá còn sống như cách mà ngư dân trẻ Trần Văn Cường đã và đang làm.

Chỉ khi những giải pháp bảo tồn được triển khai đồng bộ, ý thức về việc bảo vệ sinh vật biển này được nâng lên thì cá ngựa mới có thể sinh sôi, phát triển.

Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/e-magazine/bao-ton-hai-ma-bau-vat-cua-dai-duong-162986.html