Bảo tồn thiên nhiên là giữ vốn cho thế hệ mai sau

Bảo tồn ở Việt Nam đang hướng tới cách tiếp cận thực tế hơn, bảo đảm giá trị từ thiên nhiên tạo thành nguồn lực cho cộng đồng, rồi một phần nguồn lực đó được đưa trở lại duy trì hệ sinh thái tự nhiên.

Một dự án quốc tế hơn 7 triệu USD vừa khởi động tại Việt Nam đặt trọng tâm bảo tồn vào việc tạo giá trị kinh tế từ thiên nhiên thông qua du lịch, gắn với lợi ích của người dân mà không làm suy giảm nguồn tài nguyên đó.

Báo Hànộimới trao đổi với chuyên gia và nhà quản lý để làm rõ vai trò của du lịch trong tạo nguồn lực cho bảo tồn, cũng như cách biến giá trị thiên nhiên thành sinh kế cho cộng đồng mà vẫn giữ được nguồn tài nguyên lâu dài.

Bảo tồn ở Việt Nam hướng tới tạo giá trị cho cộng đồng và thúc đẩy du lịch. Ảnh: Kiều Thoan Thu

Bảo tồn ở Việt Nam hướng tới tạo giá trị cho cộng đồng và thúc đẩy du lịch. Ảnh: Kiều Thoan Thu

Dự án “Thúc đẩy bảo tồn loài hoang dã và du lịch dựa vào thiên nhiên có trách nhiệm vì sự phát triển bền vững ở Việt Nam” (WTP), do Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) tài trợ 7,15 triệu USD thông qua UNDP tại Việt Nam, thực hiện giai đoạn 2026-2030 tại Vườn Quốc gia Núi Chúa - Phước Bình và Phong Nha - Kẻ Bàng. Dự án được GEF phê duyệt năm 2023, khởi động tháng 8-2026.

WTP triển khai 4 hợp phần: hoàn thiện hướng dẫn, tiêu chí và công cụ về du lịch dựa vào thiên nhiên; thí điểm mô hình quản lý, hợp tác và tài chính tại hai vườn quốc gia; nâng cao năng lực, thay đổi hành vi của các bên trong chuỗi giá trị du lịch; quản lý tri thức, giám sát, đánh giá và nhân rộng kết quả.

Đến năm 2030, dự án đặt mục tiêu cải thiện hiệu quả quản lý khoảng 145.414ha; tạo, khôi phục hoặc duy trì 1.800 việc làm xanh, trong đó 70% dành cho phụ nữ, mang lại lợi ích trực tiếp cho khoảng 3.000 người. Dự án cũng đặt mục tiêu đào tạo, cấp chứng nhận cho 295 hướng dẫn viên du lịch về kiến thức bảo tồn đa dạng sinh học.

Lợi ích cho cộng đồng được thực hiện thông qua cơ chế chia sẻ lợi ích, tái đầu tư một phần nguồn thu từ du lịch vào bảo tồn và thí điểm mô hình hợp tác giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng. Tại Núi Chúa, dự án dự kiến đánh giá giá trị dịch vụ hệ sinh thái và thí điểm cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái biển.

Hơn 60 năm gắn bó với rừng, GS. TSKH. Đặng Huy Huỳnh, Anh hùng Đa dạng sinh học ASEAN, nhớ về những năm tháng “đi rừng, ngủ rừng, ăn rừng, ở rừng”. Từ những năm chiến tranh, rừng đã gắn với cuộc đời ông, nơi ông và đồng đội chiến đấu, sinh hoạt và tồn tại. Vì thế, rừng với ông “như xương, như máu”.

GS. TSKH. Đặng Huy Huỳnh, người Việt Nam đầu tiên được vinh danh Anh hùng Đa dạng sinh học ASEAN. Ảnh: Kiều Thoan Thu

GS. TSKH. Đặng Huy Huỳnh, người Việt Nam đầu tiên được vinh danh Anh hùng Đa dạng sinh học ASEAN. Ảnh: Kiều Thoan Thu

Từ trải nghiệm ấy, ông nhìn nhận việc bảo vệ rừng trước hết ở câu chuyện con người được hưởng lợi thế nào từ tự nhiên mà không làm mất đi nguồn vốn của tự nhiên.

“Chúng ta chỉ lấy được cái lãi trong thiên nhiên, còn cái vốn phải để lại cho thiên nhiên, để lại cho con cháu mai sau”, GS. Huỳnh chia sẻ.

Theo GS. Huỳnh, rừng không chỉ có giá trị về đa dạng sinh học mà còn góp phần phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và hấp thụ carbon. Khoảng 40 năm qua, nhờ chính sách của Nhà nước và sự tham gia của cộng đồng, độ che phủ rừng Việt Nam đã tăng từ khoảng 25% trong giai đoạn 1980-1985 lên 42,3% hiện nay.

Nhưng tăng độ che phủ chưa có nghĩa bài toán bảo tồn đã hoàn tất mà quan trọng là giữ được chất lượng rừng, nhất là rừng tự nhiên, nơi tập trung những giá trị đa dạng sinh học mà rừng trồng không thể thay thế, GS. Huỳnh nêu rõ.

Đời sống của gần 30 triệu người Việt Nam vẫn gắn với rừng thông qua cây ăn quả, cây dược liệu và những giá trị do đa dạng sinh học mang lại. Nếu kết hợp khoa học, kỹ thuật với chính sách phù hợp, người dân có thể cải thiện đời sống, thậm chí làm giàu từ rừng, nhưng điều kiện là phải giữ và phát triển rừng.

“Giữ rừng không phải để bảo tồn một giá trị đứng ngoài đời sống, mà để rừng tiếp tục tạo ra giá trị cho con người và cho phát triển”, GS. Huỳnh nói.

Bảo tồn đa dạng sinh học giúp thu hút du lịch và tăng giá trị kinh tế. Ảnh: Kiều Thoan Thu

Bảo tồn đa dạng sinh học giúp thu hút du lịch và tăng giá trị kinh tế. Ảnh: Kiều Thoan Thu

Quan điểm này càng có ý nghĩa khi Việt Nam tiếp tục công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nhà máy, đường giao thông và hạ tầng. Theo GS. Huỳnh, phát triển phải đi cùng việc giữ thảm xanh, rừng tự nhiên và những hệ sinh thái có giá trị.

Rừng tự nhiên cũng là nền tảng cho du lịch sinh thái. Việt Nam có nhiều vườn quốc gia, khu bảo tồn với hệ sinh thái và loài động, thực vật quý hiếm. Du khách có thể khám phá cảnh quan, quan sát chim, thú, bò sát, trải nghiệm đất ngập nước, biển và đảo, nhưng hoạt động du lịch phải phù hợp với khả năng chịu tải của từng hệ sinh thái.

Nếu lượng khách, công trình, rác thải hoặc hoạt động khai thác vượt quá giới hạn tự nhiên, du lịch sẽ trở thành áp lực lên tài nguyên. Ngược lại, khi giá trị từ du lịch được tạo ra trong giới hạn phù hợp và một phần nguồn lực được đưa trở lại cho việc gìn giữ tài nguyên, du lịch có thể hỗ trợ bảo tồn.

GS. Huỳnh đặc biệt lưu ý những vùng có giá trị đa dạng sinh học cao như dãy Trường Sơn, rừng ven biển, biển và đảo. Với Trường Sơn, các hệ sinh thái liên kết qua biên giới Việt Nam - Lào, nên bảo tồn còn gắn với đời sống của cộng đồng trong khu vực.

“Bảo vệ được rừng, bảo vệ được đa dạng sinh học chính là bảo vệ được con người”, GS. Huỳnh nhấn mạnh.

Tại Phong Nha - Kẻ Bàng, mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển được đặt trong một không gian có giá trị đặc biệt. Vườn quốc gia được UNESCO ghi danh Di sản thiên nhiên thế giới năm 2003 theo tiêu chí địa chất, địa mạo; năm 2015 tiếp tục được ghi nhận theo các tiêu chí về quá trình sinh thái, sinh học và đa dạng sinh học. Năm 2025, Phong Nha - Kẻ Bàng cùng Vườn quốc gia Hin Nam No của Lào trở thành một Di sản thế giới xuyên biên giới.

Ông Phạm Hồng Thái, Giám đốc Ban Quản lý Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Ảnh: Kiều Thoan Thu

Ông Phạm Hồng Thái, Giám đốc Ban Quản lý Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Ảnh: Kiều Thoan Thu

Ông Phạm Hồng Thái, Giám đốc Ban quản lý Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, cho biết bảo tồn và bảo vệ rừng là nhiệm vụ trọng tâm, gắn với nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và phát huy giá trị di sản qua du lịch sinh thái. Phát triển du lịch phải đi cùng bảo vệ tài nguyên rừng, môi trường, hệ sinh thái và tăng sự tham gia của cộng đồng địa phương.

“Bảo tồn và phát triển có mối quan hệ gắn bó với nhau”, ông nói.

Ông Trần Văn Tiếp, Giám đốc Ban Quản lý Vườn Quốc gia Núi Chúa - Phước Bình. Ảnh: Kiều Thoan Thu

Ông Trần Văn Tiếp, Giám đốc Ban Quản lý Vườn Quốc gia Núi Chúa - Phước Bình. Ảnh: Kiều Thoan Thu

Với Vườn Quốc gia Núi Chúa - Phước Bình, mối quan hệ ấy được nhìn từ lợi ích của cộng đồng. Giám đốc Ban quản lý Vườn, ông Trần Văn Tiếp, cho rằng khi phát triển du lịch, điều quan trọng là “du lịch trở thành nguồn lực cho bảo tồn chứ không phải trở thành áp lực đối với tự nhiên”.

Núi Chúa - Phước Bình là nơi sinh sống lâu đời của đồng bào Raglai và Chăm. Theo ông Tiếp, người dân cần được nâng cao năng lực, hỗ trợ xây dựng sản phẩm, kết nối thị trường và tham gia cơ chế chia sẻ lợi ích để trở thành chủ thể của hoạt động du lịch gắn với bảo tồn.

Tại Núi Chúa, WTP dự kiến đánh giá giá trị dịch vụ hệ sinh thái và thí điểm cơ chế chi trả cho dịch vụ hệ sinh thái biển.

Câu chuyện tại Phong Nha - Kẻ Bàng và Núi Chúa - Phước Bình cho thấy “cái lãi” từ thiên nhiên có thể trở thành nguồn lực cho phát triển, nhưng “cái vốn” tự nhiên phải được duy trì thật tốt cho phát triển bền vững.

Kiều Thoan Thu

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/bao-ton-thien-nhien-la-giu-von-cho-the-he-mai-sau-1757019.html