Bảo vệ bản sắc văn hóa trong kỷ nguyên số
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm thay đổi cách nghệ sĩ, nhà sáng tạo tiếp cận dữ liệu, hình thành ý tưởng và tạo ra tác phẩm. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội mới, việc ứng dụng AI cũng đặt ra yêu cầu về trách nhiệm, đạo đức và bảo vệ các giá trị văn hóa trong hoạt động sáng tạo.

Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Thu Hà và các đại biểu tham quan Triển lãm "Thể lạ" có ứng dụng công nghệ AI. Ảnh: Thu Huệ
Khi AI trở thành “cộng sự” của nhà sáng tạo...
Đầu tháng 10-2026, MV “Sau những ngày yêu xa” của ca sĩ trẻ Đặng Ngọc Anh ra mắt công chúng. Theo chia sẻ của ca sĩ, ê kíp mong muốn kể câu chuyện tình yêu qua những hình ảnh đậm chất Hà Nội. Tuy nhiên, việc tìm kiếm bối cảnh gặp không ít khó khăn khi nhiều không gian quen thuộc của Hà Nội xưa đã thay đổi theo thời gian.
Để giải quyết bài toán này, ê kíp đã kết hợp công nghệ 3D và trí tuệ nhân tạo (AI), tái hiện những không gian Hà Nội xưa từ tư liệu cũ nhằm tạo dấu ấn với công chúng.
Câu chuyện của ca sĩ Đặng Ngọc Anh không phải trường hợp cá biệt trong đời sống sáng tạo hiện nay. Thực tế cho thấy, AI không chỉ rút ngắn thời gian sản xuất mà còn tác động đến cách hình thành và phát triển ý tưởng. Giám đốc sáng tạo, nghệ sĩ trẻ Nguyễn Trà Giang cho biết, khoảng 2 năm trở lại đây, AI đã trở thành công cụ cô thường xuyên sử dụng, từ xây dựng chiến lược, tìm kiếm giải pháp sáng tạo đến phát triển hình ảnh và sản phẩm.
“Hiện nay, chúng tôi chỉ cần một chuyên viên, thay vì 2-3 người như trước đây, để nhập lượng lớn thông tin vào hệ thống, giúp AI phân tích và đưa ra các hướng tiếp cận khác nhau theo yêu cầu. Cuối cùng, việc chọn lọc, đánh giá và phát triển thành giải pháp vẫn do chính tôi thực hiện. AI có thể đưa ra những “giải pháp phù hợp” nhưng chưa chắc đó đã là “giải pháp tốt nhất”. Việc đánh giá đâu là hướng phù hợp nhất vẫn cần do con người thực hiện”, nhà thiết kế Nguyễn Trà Giang chia sẻ.
Nhận định AI đang làm thay đổi sâu sắc quy trình sáng tạo nghệ thuật, Phó Giám đốc Bảo tàng Hà Nội Đặng Minh Vệ cho biết, bảo tàng hiện lưu giữ gần 73.000 tài liệu, hiện vật từ thời kỳ dựng nước, giữ nước đến ngày nay. Với khối lượng dữ liệu lớn như vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu, tổng hợp, thống kê và khai thác chỉ dựa vào nhân lực sẽ gặp nhiều khó khăn. AI không chỉ hỗ trợ các công việc này mà còn mở rộng khả năng tiếp cận, diễn giải và sáng tạo trên nền tảng những giá trị văn hóa được trao truyền. Đây là một trong những cơ hội mà kỷ nguyên AI mang lại.
... và thách thức với việc bảo vệ dữ liệu, bản quyền
Mặc dù mở ra nhiều cơ hội cho cộng đồng sáng tạo, việc ứng dụng AI ngày càng phổ biến trong nghệ thuật cũng đặt ra không ít thách thức, đặc biệt là chất lượng và tính phù hợp của dữ liệu đầu vào. Ông Đặng Minh Vệ dẫn chứng từ quá trình Bảo tàng Hà Nội xây dựng sản phẩm giới thiệu di chỉ khảo cổ Vườn Chuối, có niên đại khoảng 4.000 - 2.000 năm trước, nơi lưu giữ dấu tích cư trú của người Việt cổ.
“Khi Bảo tàng Hà Nội sử dụng một công cụ AI của nước ngoài để sản xuất phim hoạt hình về di sản này thì lập tức xuất hiện vấn đề. Hệ thống được xây dựng và huấn luyện trên nguồn dữ liệu gắn với nền văn hóa của quốc gia cung cấp công cụ. Nếu đưa dữ liệu Việt Nam vào một cách sơ sài, kết quả có nguy cơ không phản ánh đúng những đặc trưng văn hóa cần thể hiện”, ông Đặng Minh Vệ chia sẻ.
Để bộ phim phản ánh đúng giá trị di sản Vườn Chuối, Bảo tàng Hà Nội phải đầu tư công sức số hóa dữ liệu, xử lý hoa văn, bản dập, đồng thời hợp tác với một đơn vị khác để vẽ lại dữ liệu khai quật được, tạo nguồn đầu vào phù hợp cho AI.
“Câu chuyện này cho thấy, chỉ khi dữ liệu được chuẩn bị kỹ lưỡng, sản phẩm tạo ra mới phù hợp với di sản. AI không thể tạo ra kết quả đáng tin cậy nếu dữ liệu đầu vào thiếu, sai hoặc không phù hợp”, Phó Giám đốc Bảo tàng Hà Nội nhấn mạnh.
Chia sẻ từ thực tiễn sáng tạo, nhà sáng tạo Nguyễn Quốc Hoàng Anh - người cùng các cộng sự xây dựng dự án văn hóa, nghệ thuật đa ngành “Lên Ngàn” cho biết, nhóm hiện sử dụng 9 công cụ AI khác nhau, phần lớn phục vụ nghệ thuật biểu diễn. Trong dự án, các chất liệu truyền thống được đưa vào quá trình thử nghiệm với công nghệ. Nhóm đã dành nhiều thời gian làm việc cùng các nghệ sĩ gạo cội để tái cấu trúc những tổ hợp vũ đạo của tuồng truyền thống, từ đó xây dựng dữ liệu phục vụ việc đào tạo, huấn luyện AI trong hoạt động sáng tạo.
“Quá trình đó cho chúng tôi thấy, AI có thể học và tái tạo âm thanh, hình ảnh, video, văn bản, giai điệu, thậm chí sao chép phong cách với chi phí ngày càng thấp nhưng không tự hiểu được toàn bộ chiều sâu văn hóa, ký ức cộng đồng hay ý nghĩa của một di sản. Bởi vậy, số hóa di sản không thể chỉ dừng ở việc đưa hình ảnh, hiện vật lên hệ thống. Cần có dữ liệu chuẩn, có tri thức đi kèm và quan trọng hơn là có con người kiểm chứng. Nếu không, công nghệ có thể vô tình trở thành công cụ lan truyền thông tin sai lệch trên quy mô lớn”, nhà sáng tạo Nguyễn Quốc Hoàng Anh nói.
Ở góc độ pháp lý, PGS.TS Nguyễn Thị Quế Anh, giảng viên cao cấp khoa Luật, Trường Đại học Luật (Đại học Quốc gia Hà Nội), cho rằng những thách thức đối với cộng đồng sáng tạo khi sử dụng AI cần được xem xét đồng thời từ góc độ pháp luật và đạo đức.
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Quế Anh, có ít nhất 3 nhóm quy định liên quan trực tiếp đến việc sử dụng AI trong lĩnh vực sáng tạo, gồm pháp luật về sở hữu trí tuệ, bảo vệ dữ liệu cá nhân và trí tuệ nhân tạo. Trong đó, quy định về sở hữu trí tuệ đặt ra yêu cầu về sự tham gia sáng tạo đáng kể của con người đối với tác phẩm được tạo ra có sự hỗ trợ của AI. Vì vậy, người sáng tạo cần lưu giữ bằng chứng về quá trình đóng góp của mình, từ hình thành ý tưởng, cung cấp dữ liệu đầu vào, đặt yêu cầu, lựa chọn tham số đến chọn lọc, chỉnh sửa và hoàn thiện kết quả.
Một vấn đề khác là nguồn dữ liệu dùng để huấn luyện AI. Nếu dữ liệu chứa các tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình hoặc những đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đang được bảo hộ, việc sử dụng phải tuân thủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Bên cạnh bản quyền, dữ liệu cá nhân cũng cần được bảo vệ. Hình ảnh và thông tin cá nhân của nghệ sĩ có thể trở thành dữ liệu đầu vào của hệ thống AI, do đó, quyền của chủ thể dữ liệu phải được tôn trọng.
“Với lĩnh vực văn hóa, thách thức không chỉ nằm ở bản quyền hay dữ liệu cá nhân. Một nguy cơ sâu hơn là sự sai lệch văn hóa. Dữ liệu văn hóa phải chính xác, trung thực, khách quan và phản ánh đúng giá trị của đối tượng. Nếu AI được “học” từ dữ liệu không đầy đủ hoặc sai lệch, nó có thể tạo ra những sản phẩm đẹp về hình thức nhưng sai về lịch sử, sai về biểu tượng và sai về bản sắc”, PGS.TS Nguyễn Thị Quế Anh nhấn mạnh.
Trách nhiệm và đạo đức của nhà sáng tạo
GS.TS Huỳnh Thị Thanh Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Công nghệ thông tin và Truyền thông, Đại học Bách khoa Hà Nội, cho biết, Báo cáo đánh giá mức độ sẵn sàng về đạo đức AI tại Việt Nam mới đây chỉ ra rằng, Việt Nam có cam kết chính trị rõ ràng về AI và chuyển đổi số, có hạ tầng số; hoạt động nghiên cứu AI và doanh nghiệp trong lĩnh vực này tăng mạnh thời gian qua, đồng thời có mức độ tin cậy số khá cao. Tuy nhiên, đạo đức AI mới bắt đầu được thể chế hóa; cơ chế phối hợp còn thiếu; nguồn dữ liệu chất lượng cao và nhân lực AI chuyên sâu chưa đáp ứng yêu cầu; nguồn lực sáng tạo AI còn hạn chế, trong khi việc đánh giá tác động của AI chưa rõ ràng.
“Cụ thể hơn, ở lĩnh vực văn hóa, di sản và ngôn ngữ, báo cáo cho thấy Việt Nam chưa có chính sách riêng về tiêu chuẩn kỹ thuật, chưa có cơ chế để cộng đồng tham gia thiết kế, phát triển và giám sát các giải pháp AI, đồng thời chưa có chính sách cụ thể về sử dụng AI để bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số và ngôn ngữ bản địa.
Ngoài ra, vấn đề đạo đức AI mới được quan tâm, chưa có trung tâm chuyên biệt duy nhất về đạo đức AI. Các nghiên cứu liên ngành về khía cạnh đạo đức, xã hội, pháp lý và văn hóa của AI vẫn còn rời rạc, chưa ổn định”, GS.TS Huỳnh Thị Thanh Bình cho biết. Chuyên gia kỳ vọng Luật Trí tuệ nhân tạo vừa được ban hành sẽ tạo nền tảng pháp lý cho việc phát triển, cung cấp, sử dụng và quản lý AI theo hướng an toàn, minh bạch và có trách nhiệm tại Việt Nam.
Đề cập đến trách nhiệm, PGS.TS Nguyễn Thị Quế Anh cho rằng: “Cộng đồng sáng tạo cần thay đổi tư duy, nhận thức rõ hơn về các giới hạn pháp lý và đạo đức trong khai thác dữ liệu, đặc biệt là dữ liệu di sản văn hóa. Đối với các kết quả nghiên cứu khoa học và dữ liệu liên quan đến lịch sử, văn hóa, hoa văn, hiện vật, di sản... con người phải giữ vai trò thẩm định, bảo đảm tính chính xác và giá trị của sản phẩm. Hãy biến AI thành “cộng sự”, thay vì để AI là chủ thể thay thế hoàn toàn con người”, chuyên gia Nguyễn Thị Quế Anh nhấn mạnh.
Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/bao-ve-ban-sac-van-hoa-trong-ky-nguyen-so-1761731.html


