Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ góc nhìn văn hóa:Bài 1 - Từ gốc rễ văn hóa đến sức bền của niềm tin

LTS: Trong mọi thời đoạn phát triển của đất nước, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ chính trị, lý luận, truyền thông, mà còn là công việc bền bỉ của văn hóa: Bồi đắp niềm tin, gìn giữ ký ức, củng cố hệ giá trị, nuôi dưỡng con người Việt Nam có bản lĩnh, nhân cách và khát vọng phụng sự Tổ quốc.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nhìn từ góc độ văn hóa, không bắt đầu bằng những khẩu hiệu lớn, mà bắt đầu từ câu hỏi rất gần: Điều gì làm cho một xã hội còn tin vào những giá trị đúng đắn, còn biết phân biệt phải - trái, thật - giả, cao thượng - tầm thường, còn đủ bản lĩnh để không bị cuốn trôi trước những cơn lốc thông tin và những thủ pháp xuyên tạc ngày càng tinh vi?

Khi nền tảng tư tưởng được đặt trong đời sống văn hóa, đó không còn là khái niệm xa xôi của văn kiện, mà trở thành mạch ngầm nâng đỡ đời sống tinh thần của quốc gia.

Hàng ngàn thanh niên, học sinh, sinh viên tham gia màn đồng diễn trong Ngày hội Văn hóa lần thứ IV năm 2025 tại TP Hồ Chí Minh

Hàng ngàn thanh niên, học sinh, sinh viên tham gia màn đồng diễn trong Ngày hội Văn hóa lần thứ IV năm 2025 tại TP Hồ Chí Minh

Nền tảng tư tưởng không đứng ngoài đời sống

Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22.10.2018 của Bộ Chính trị xác định việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nhưng nếu chỉ hiểu nhiệm vụ ấy như một cuộc tranh luận khép kín trong phạm vi lý luận chính trị, chúng ta sẽ chưa nhìn thấy hết chiều sâu của vấn đề. Bởi nền tảng tư tưởng của Đảng không tồn tại trong khoảng không trừu tượng. Nó được kiểm nghiệm trong lịch sử, được nuôi dưỡng bằng văn hóa, được chứng minh qua thực tiễn cách mạng, qua đời sống nhân dân, qua từng biến chuyển của đất nước từ nghèo khó, chiến tranh, chia cắt đến thống nhất, đổi mới, hội nhập và phát triển.

Một nền tảng tư tưởng chỉ thật sự bền vững khi nó có khả năng đi vào đời sống, soi sáng đời sống và được đời sống xác nhận. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng không phải là những mệnh đề đóng kín, càng không phải là di sản để cất giữ trong bảo tàng nhận thức.

Đó là hệ giá trị hành động, là phương pháp nhìn nhận xã hội, là cách đặt con người vào trung tâm của phát triển, là khát vọng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, là ý chí xây dựng một đất nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Những giá trị ấy chỉ có sức thuyết phục sâu xa khi được thể hiện bằng thành quả phát triển, bằng sự công bằng trong chính sách, bằng phẩm chất của đội ngũ cán bộ, bằng những chuyển động tích cực trong đời sống nhân dân.

Từ góc nhìn văn hóa, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước hết là bảo vệ khả năng tự nhận thức của một dân tộc về con đường mình đã chọn. Một dân tộc mất ký ức sẽ dễ bị dẫn dắt bởi những lời hứa hẹn lạ lẫm. Một xã hội rạn vỡ hệ giá trị sẽ dễ bị thao túng bởi sự hoài nghi, cực đoan và phủ định sạch trơn. Một cộng đồng không còn biết trân trọng những hy sinh, thành tựu và bài học lịch sử của mình sẽ dễ rơi vào tâm thế chông chênh trước mọi luận điệu bóp méo quá khứ, phủ định hiện tại, gieo rắc mất phương hướng về tương lai.

Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng cũng là bảo vệ chiều sâu văn hóa của quốc gia, nơi lịch sử không bị cắt khúc, niềm tin không bị làm rỗng và con người không bị biến thành những cá thể lạc lõng giữa dòng thông tin hỗn loạn.

Văn hóa là lớp phòng vệ sâu nhất

Trong các cuộc đấu tranh tư tưởng, điều dễ nhìn thấy nhất thường là những thông tin sai trái, những luận điệu xuyên tạc, những chiến dịch công kích trên không gian mạng. Nhưng phía sau bề mặt ấy là một cuộc va chạm sâu hơn: Va chạm về hệ giá trị. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều sự chống phá thường bắt đầu từ việc bóp méo lịch sử, hạ thấp biểu tượng, giễu nhại truyền thống, làm nhòe ranh giới giữa phản biện và phá hoại, giữa tự do biểu đạt và vô trách nhiệm, giữa hoài nghi lành mạnh và phủ định cực đoan. Khi một cộng đồng bị bào mòn niềm tự trọng văn hóa, việc làm lung lay niềm tin chính trị sẽ trở nên dễ dàng hơn nhiều.

Văn hóa vì thế là lớp phòng vệ sâu nhất của nền tảng tư tưởng. Pháp luật có thể xử lý hành vi vi phạm. Truyền thông có thể phản bác thông tin sai trái. Lý luận có thể làm sáng tỏ những vấn đề nhận thức. Nhưng văn hóa mới là nơi hình thành năng lực miễn dịch tinh thần của xã hội. Một con người có văn hóa sẽ không dễ bị kích động bởi sự thù hằn. Một cộng đồng có ký ức lịch sử sẽ không dễ bị đánh tráo sự thật. Một xã hội biết tôn trọng chuẩn mực sẽ không dễ xem sự tục tĩu, vô cảm, cực đoan là “cá tính”. Một nền báo chí, văn học, nghệ thuật, giáo dục giàu trách nhiệm sẽ góp phần tạo nên sức đề kháng trước những sản phẩm lai căng, độc hại, những thông tin giả, những lối sống thực dụng và sự tha hóa thẩm mỹ.

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07.01.2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam tiếp tục khẳng định văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước. Điều đó cho thấy văn hóa không phải phần “mềm” đứng bên lề những nhiệm vụ “cứng” của chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh. Văn hóa là chiều sâu của mọi chính sách phát triển. Văn hóa làm cho tăng trưởng có nhân tính, cho quyền lực có trách nhiệm, cho hội nhập có bản sắc, cho đổi mới có phương hướng, cho truyền thông có đạo đức, cho con người có điểm tựa bên trong.

Từ đó có thể thấy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không thể chỉ là chống cái sai, mà còn phải làm cho cái đúng trở nên có sức sống. Không thể chỉ vạch ra những thủ đoạn xuyên tạc, mà còn phải xây dựng một đời sống văn hóa lành mạnh, nơi sự thật được tôn trọng, cái đẹp được nâng đỡ, cái thiện được khuyến khích, những điều tử tế không bị lép vế trước sự ồn ào của thói cơ hội. Khi văn hóa đủ mạnh, nhiều luận điệu độc hại sẽ tự mất đất sống. Khi hệ giá trị đủ sáng, con người sẽ biết tự điều chỉnh trước những cám dỗ của sự lệch chuẩn.

Không thể bảo vệ niềm tin bằng những lời rỗng

Niềm tin chính trị, xét đến cùng, không thể được bảo vệ lâu dài chỉ bằng tuyên truyền một chiều. Niềm tin phải được nuôi bằng sự thật, bằng công lý, bằng hiệu quả quản trị, bằng sự nêu gương và bằng những đổi thay cụ thể trong đời sống nhân dân. Đây chính là điểm mà góc nhìn văn hóa giúp chúng ta nhìn thẳng hơn, sâu hơn và cũng nghiêm khắc hơn. Bởi văn hóa không chấp nhận sự giả tạo. Văn hóa có thể nâng đỡ lý tưởng, nhưng cũng có khả năng phơi bày khoảng cách giữa lời nói và việc làm, giữa chủ trương đúng và thực thi yếu, giữa khẩu hiệu đẹp và hành vi thiếu chuẩn mực.

Sự suy giảm niềm tin nhiều khi không đến từ những đòn công kích bên ngoài trước tiên, mà bắt đầu từ những vết nứt bên trong: Một quyết định hành chính thiếu nhân văn, một cán bộ vô cảm trước khó khăn của dân, một biểu hiện tham nhũng, lãng phí, đặc quyền, đặc lợi, một cách ứng xử cửa quyền, một sự chậm trễ trong giải quyết bức xúc chính đáng. Những điều ấy, dù có thể chỉ là hiện tượng cục bộ, lại rất dễ bị khuếch đại trong không gian truyền thông hiện nay. Và nguy hiểm hơn, nó tạo chất liệu cho những thế lực cơ hội đánh đồng sai phạm cá nhân với bản chất chế độ, lấy khuyết điểm trong thực thi để phủ định đường lối, lấy cái xấu cụ thể để bôi đen toàn bộ thành quả chung.

Vì thế, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ góc nhìn văn hóa đòi hỏi một thái độ rất rõ ràng: Không né tránh cái sai, không tô hồng thực tại, không biến công tác tư tưởng thành lớp sơn phủ lên những vấn đề cần được giải quyết. Đấu tranh với quan điểm sai trái, thù địch là cần thiết, nhưng đấu tranh với sự suy thoái, vô cảm, quan liêu, hình thức trong chính nội bộ cũng quan trọng không kém. Bởi mỗi hành vi công vụ đúng mực là một cách bảo vệ niềm tin. Mỗi chính sách nhân văn được thực thi đến nơi đến chốn là một cách củng cố nền tảng tư tưởng. Mỗi cán bộ biết trọng dân, gần dân, hiểu dân, vì dân là một “thông điệp chính trị” có sức thuyết phục hơn nhiều lời giải thích dài dòng.

Ở đây, văn hóa chính trị trở thành vấn đề cốt lõi. Văn hóa chính trị không chỉ là nghi thức, diễn văn, biểu tượng, mà là đạo đức của quyền lực, là trách nhiệm trước nhân dân, là sự liêm chính trong hành động, là khả năng lắng nghe phản biện, là bản lĩnh sửa sai, là sự nhất quán giữa lời nói và việc làm. Khi văn hóa chính trị được đề cao, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng sẽ bớt khô cứng, bớt áp đặt, bớt nặng tính phòng thủ, mà trở thành quá trình tự làm trong sạch, tự củng cố sức mạnh, tự nâng cao năng lực thuyết phục của Đảng trong đời sống xã hội.

Xây nền bằng khai sáng, đối thoại và nêu gương

Trong thời đại số, bảo vệ nền tảng tư tưởng càng không thể dừng lại ở tư duy “ngăn chặn” đơn thuần. Không gian mạng mở ra vô vàn cơ hội tiếp cận tri thức, nhưng cũng làm cho tin giả, định kiến, cực đoan, thao túng cảm xúc và chủ nghĩa hoài nghi lan truyền với tốc độ chưa từng có. Một thông tin sai có thể vượt qua biên giới trong vài giây. Một hình ảnh cắt ghép có thể làm tổn thương uy tín cá nhân, tổ chức. Một luận điệu được bọc trong ngôn ngữ “khai phóng” có thể gieo mầm phủ định lịch sử, phủ định chế độ, phủ định những giá trị căn bản mà nhiều thế hệ đã đánh đổi bằng máu xương, trí tuệ và niềm tin.

Nhưng càng trong bối cảnh ấy, chúng ta càng phải bảo vệ nền tảng tư tưởng bằng phương thức văn hóa hơn: Khai sáng thay cho áp đặt; đối thoại thay cho độc thoại; thuyết phục thay cho mệnh lệnh; nêu gương thay cho hô hào; lấy cái đúng, cái đẹp, cái tích cực để lấn át cái sai, cái xấu, cái độc hại. Báo chí chính thống, văn học nghệ thuật, giáo dục, thiết chế văn hóa cơ sở, các nền tảng truyền thông số, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nhà báo, nhà giáo, người có ảnh hưởng tích cực trong cộng đồng đều phải trở thành những chủ thể kiến tạo niềm tin. Niềm tin trong thời đại hôm nay không thể chỉ được truyền đạt từ trên xuống, mà phải được nuôi dưỡng qua tương tác, qua đối thoại, qua trải nghiệm, qua những bằng chứng sống động của đời sống.

Tinh thần chỉ đạo gần đây của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về việc không để xã hội giàu lên về vật chất nhưng nghèo đi về văn hóa, đạo đức và các giá trị nhân văn gợi mở một yêu cầu rất sâu sắc: Phát triển không chỉ là tăng trưởng, hiện đại hóa không chỉ là công nghệ, hội nhập không chỉ là mở cửa thị trường, mà còn là giữ cho con người Việt Nam không bị đánh mất phần căn cốt của mình. Một xã hội văn minh không chỉ cần đường sá, đô thị, dữ liệu, công nghệ, mà cần lòng nhân ái, sự trung thực, năng lực phân biệt đúng sai, khả năng sống có trách nhiệm với cộng đồng và đất nước. Đó cũng chính là nền móng văn hóa của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng.

Bài học lớn nhất là: Muốn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phải làm cho nền tảng ấy hiện diện trong đời sống bằng những giá trị có thật. Phải làm cho người dân thấy rằng con đường đã chọn không chỉ đúng trong lịch sử, mà còn có khả năng giải quyết những vấn đề của hôm nay; không chỉ được khẳng định trong văn kiện, mà còn được chứng minh bằng cơm áo, công bằng, cơ hội, phẩm giá và tương lai; không chỉ được bảo vệ bằng lý lẽ, mà còn bằng vẻ đẹp của một xã hội biết hướng thiện, biết tri ân quá khứ, biết chăm lo con người, biết sửa mình để tiến bộ.

Từ gốc rễ văn hóa ấy, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mới có chiều sâu bền vững. Bảo vệ không phải là đóng cửa trước mọi khác biệt, mà là giữ vững nguyên tắc trong khi vẫn đủ trí tuệ để đối thoại. Bảo vệ không phải là sợ hãi trước thông tin trái chiều, mà là đủ bản lĩnh, đủ tri thức, đủ văn hóa để làm sáng tỏ sự thật. Bảo vệ không phải là chỉ đứng ở tuyến đầu phản bác, mà còn là âm thầm bồi đắp từ gia đình, nhà trường, cộng đồng, cơ quan công quyền, môi trường truyền thông, đời sống nghệ thuật và từng hành vi ứng xử hằng ngày.

Một nền tảng tư tưởng vững chắc không thể tách rời một nền văn hóa lành mạnh. Một niềm tin chính trị bền sâu không thể tách rời một đời sống xã hội công bằng, nhân văn, có kỷ cương và giàu khát vọng. Và một dân tộc muốn đi xa trong kỷ nguyên mới phải biết bảo vệ mình không chỉ bằng sức mạnh vật chất, mà bằng bản lĩnh tinh thần, ký ức lịch sử, phẩm giá văn hóa và khả năng tự đổi mới không ngừng. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ như một nhiệm vụ đấu tranh, mà như một công cuộc xây dựng văn hóa. Bởi khi văn hóa còn mạnh, niềm tin còn có gốc. Khi niềm tin còn có gốc, dân tộc còn có sức đi tới.

(Còn tiếp)

NGUYỄN ĐỖ

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/chinh-tri/bai-1-tu-goc-re-van-hoa-den-suc-ben-cua-niem-tin-245296.html