Bảo vệ tài sản trí tuệ: Giữ nguồn lực cho đổi mới sáng tạo

Một sản phẩm công nghệ có thể mất nhiều năm để nghiên cứu nhưng chỉ cần vài phút để bị sao chép. Một tác phẩm có thể là kết quả của hàng nghìn giờ lao động nhưng chỉ cần một cú nhấp chuột để phát tán tới hàng triệu người. Trong kỷ nguyên số và trí tuệ nhân tạo, khoảng cách giữa sáng tạo và xâm phạm đang ngắn lại chưa từng có. Bảo vệ sở hữu trí tuệ, vì thế, không còn chỉ là bảo vệ quyền của tác giả hay doanh nghiệp. Đó còn là bảo vệ nguồn lực cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của quốc gia.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Khi chi phí sáng tạo rất lớn, còn chi phí sao chép rất nhỏ

Để một giải pháp kỹ thuật có thể bước ra khỏi phòng thí nghiệm, doanh nghiệp có thể phải dành nhiều năm đầu tư nhân lực, thiết bị, thử nghiệm, chấp nhận những lần thất bại và liên tục hoàn thiện trước khi nghĩ đến chuyện thương mại hóa. Thế nhưng, khi sản phẩm vừa xuất hiện trên thị trường, những giá trị cốt lõi của nó đã có thể đứng trước nguy cơ bị sao chép, khai thác hoặc sử dụng trái phép.

Với sản phẩm số, tốc độ ấy còn nhanh hơn. Một bộ phim vừa phát hành có thể lập tức xuất hiện trên website lậu; một tác phẩm âm nhạc có thể bị sao chép, chỉnh sửa và khai thác thương mại mà tác giả không hay biết; một nhãn hiệu có thể bị giả mạo trên sàn thương mại điện tử. Phần mềm, dữ liệu, thiết kế và nhiều thành quả sáng tạo khác có thể được nhân bản với chi phí rất thấp.

Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) tạo sinh tiếp tục làm thay đổi quy mô của bài toán. Không chỉ tốc độ sao chép tăng lên mà ranh giới giữa sáng tạo, sử dụng lại, biến đổi và xâm phạm quyền cũng trở nên phức tạp hơn.

Hình ảnh minh họa về trí tuệ nhân tạo. Nguồn: Internet.

Hình ảnh minh họa về trí tuệ nhân tạo. Nguồn: Internet.

Đó là một nghịch lý của nền kinh tế tri thức: chi phí để tạo ra tri thức có thể rất lớn, nhưng chi phí để sao chép tri thức đôi khi lại rất nhỏ. Nếu khoảng cách ấy không được pháp luật và công nghệ thu hẹp, người chịu thiệt cuối cùng không chỉ là chủ sở hữu một tác phẩm hay một sáng chế. Xa hơn, chính động lực đổi mới sáng tạo của xã hội cũng có thể bị tổn thương.

Bởi đằng sau một sản phẩm hoàn chỉnh là những điều thị trường khó nhìn thấy: những năm tháng nghiên cứu, những lần thử nghiệm thất bại, những khoản vốn chưa biết khi nào thu hồi được và lao động trí tuệ của rất nhiều con người. Chúng ta dễ nhìn thấy giá bán của một sản phẩm, nhưng khó định lượng hết giá trị của tri thức nằm phía sau sản phẩm ấy.

Vì vậy, khi một thành quả sáng tạo bị lấy đi quá dễ dàng, điều mất đi không chỉ là tiền.

7.000 tỷ đồng và phần thiệt hại không thể tính bằng tiền

Theo thông tin được cơ quan quản lý công bố, vi phạm bản quyền trên môi trường số gây thiệt hại khoảng 7.000 tỷ đồng mỗi năm.

Hình ảnh minh họa: Nguồn: AI.

Hình ảnh minh họa: Nguồn: AI.

Con số ấy đủ lớn để cảnh báo. Nhưng còn một phần thiệt hại rất khó đưa vào bất kỳ bảng thống kê nào: những khoản đầu tư cho sáng tạo đã không được thực hiện vì người ta lo ngại thành quả của mình không được bảo vệ.

Doanh nghiệp có thể tính doanh thu mất đi vì hàng giả; nhà sản xuất có thể thống kê số lượt xem trái phép; tác giả có thể ước tính phần tiền bản quyền không nhận được. Nhưng rất khó tính được bao nhiêu dự án nghiên cứu đã không được tiếp tục, bao nhiêu doanh nghiệp đã không dám đầu tư thêm cho công nghệ, bao nhiêu sáng kiến không được thương mại hóa hay bao nhiêu chủ sở hữu công nghệ đã do dự trước quyết định chuyển giao những bí quyết quan trọng. Đó là phần chìm của thiệt hại do xâm phạm sở hữu trí tuệ.

Bởi vậy, hiệu quả bảo vệ quyền không nên chỉ được nhìn qua số vụ xử lý hay số tiền xử phạt. Câu hỏi xa hơn phải là: sau những biện pháp ấy, người sáng tạo có yên tâm tiếp tục sáng tạo; doanh nghiệp có mạnh dạn bỏ thêm vốn cho nghiên cứu; nhà khoa học có đủ tin tưởng để đưa thành quả trí tuệ của mình ra thị trường hay không?Nếu câu trả lời vẫn còn dè dặt, công việc của pháp luật vẫn chưa kết thúc.

Từ bảo vệ một sáng chế đến bảo vệ dòng chảy công nghệ

Hình ảnh minh họa về việc được cấp bằng sáng chế. Nguồn: Internet.

Hình ảnh minh họa về việc được cấp bằng sáng chế. Nguồn: Internet.

Có một mối quan hệ cần được nhìn nhận đầy đủ hơn: sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ là những mắt xích liên tục của quá trình đổi mới sáng tạo.

Sáng tạo tạo ra tri thức; sở hữu trí tuệ xác lập và bảo vệ những giá trị được pháp luật ghi nhận; chuyển giao công nghệ đưa những giá trị ấy đến chủ thể có khả năng ứng dụng; sản xuất và thương mại hóa tiếp tục biến công nghệ thành sản phẩm, dịch vụ và giá trị kinh tế. Một mắt xích không vận hành hiệu quả có thể ảnh hưởng đến cả chuỗi.

Trong nhiều giao dịch chuyển giao công nghệ, thứ có giá trị nhất không hẳn là chiếc máy được bàn giao. Đó có thể là quy trình nằm phía sau chiếc máy, công thức tạo nên sản phẩm, dữ liệu kỹ thuật, giải pháp vận hành, bí quyết sản xuất, sáng chế hoặc những kinh nghiệm được tích lũy trong nhiều năm. Công nghệ hiện đại, vì thế, ngày càng chứa nhiều tài sản vô hình.

TS. Luật sư Hồ Minh Khánh, Trưởng khoa Luật, Đại học Duy Tân, cho rằng bảo vệ sở hữu trí tuệ và thúc đẩy chuyển giao công nghệ không phải hai mục tiêu đối lập: “Bảo hộ đủ mạnh tạo niềm tin để người sở hữu công nghệ chuyển giao; còn một cơ chế chuyển giao hiệu quả lại giúp tài sản trí tuệ được đưa vào sản xuất, kinh doanh và tiếp tục tạo ra giá trị. Điều cần hướng tới không phải chỉ là giữ được quyền, mà là làm cho quyền sở hữu trí tuệ trở thành một nguồn lực phát triển”.

Cách nhìn ấy cũng đặt ra yêu cầu rộng hơn đối với chính sách. Thay vì chỉ hỏi “làm thế nào để ngăn người khác xâm phạm?”, cần đặt thêm câu hỏi “làm thế nào để tài sản trí tuệ được định giá, giao dịch, chuyển giao và tiếp tục sinh ra giá trị mới?”

Hình ảnh minh họa về việc chuyển giao công nghệ. Nguồn: Internet.

Hình ảnh minh họa về việc chuyển giao công nghệ. Nguồn: Internet.

Một bằng độc quyền sáng chế nằm trong ngăn tủ không tự tạo ra tăng trưởng. Một kết quả nghiên cứu dừng lại ở nghiệm thu không tự trở thành sức sản xuất. Công nghệ chỉ thực sự tạo ra giá trị xã hội khi có khả năng đi từ phòng nghiên cứu đến doanh nghiệp, từ doanh nghiệp vào sản xuất và từ sản xuất ra thị trường.

Bởi vậy, hiệu quả của hệ thống sở hữu trí tuệ không thể chỉ đo bằng số văn bằng bảo hộ được cấp; cũng như hiệu quả của chuyển giao công nghệ không nên chỉ nhìn qua số hợp đồng được ký. Điều quan trọng hơn là sau quá trình ấy, năng lực công nghệ của doanh nghiệp có tăng lên không, công nghệ có được hấp thụ và cải tiến không, có tạo ra sản phẩm mới và cuối cùng có góp phần hình thành năng lực đổi mới sáng tạo nội sinh hay không.

Đây cũng là khoảng cách không dễ lấp đầy. Đưa một kết quả nghiên cứu vào cuộc sống cần nhiều hơn nhiệt huyết của nhà khoa học. Nó cần doanh nghiệp, vốn, thị trường, cơ chế chuyển giao và một môi trường pháp lý đủ an toàn để các bên dám đưa những tài sản trí tuệ có giá trị vào giao dịch.

Người vi phạm đang chạy bằng công nghệ, người bảo vệ quyền không thể đi bộ

Ngày 5-5-2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện số 38/CĐ-TTg yêu cầu triển khai quyết liệt các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn và xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Chỉ trong ba tuần triển khai cao điểm, các bộ, ngành, địa phương đã phát hiện, xử lý 1.438 vụ việc; xử phạt hành chính 1.146 vụ, khởi tố hình sự 28 vụ, với tổng tiền xử phạt 12,6 tỷ đồng và trị giá hàng hóa vi phạm gần 36 tỷ đồng.

Lực lượng Quản lý thị trường xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong thời gian triển khai Công điện số 38/CĐ-TTg ngày 05/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ. Ảnh: Báo Bảo vệ công lý.

Lực lượng Quản lý thị trường xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong thời gian triển khai Công điện số 38/CĐ-TTg ngày 05/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ. Ảnh: Báo Bảo vệ công lý.

Những con số ấy cho thấy quyết tâm thực thi pháp luật. Nhưng trong môi trường số, một vấn đề khác đang ngày càng rõ hơn: phương thức bảo vệ quyền truyền thống liệu có còn đủ nhanh trước phương thức xâm phạm được hỗ trợ bởi công nghệ?

Một website bị chặn hôm nay có thể xuất hiện trở lại ngày mai bằng tên miền khác. Máy chủ có thể đặt ở nước ngoài, dữ liệu phân tán qua nhiều hạ tầng, danh tính người vận hành được che giấu. Nội dung vi phạm có thể được sao chép sang nhiều nền tảng trước khi một yêu cầu gỡ bỏ hoàn thành.

Nếu cơ quan thực thi và chủ thể quyền chỉ chạy theo từng đường dẫn, từng website, từng bản sao, cuộc chiến sẽ không cân sức. Người vi phạm đang chạy bằng công nghệ thì người bảo vệ quyền không thể đi bộ.

Điều đó đòi hỏi cơ sở dữ liệu quyền đủ tốt, công cụ nhận diện nội dung, truy xuất nguồn gốc, rà quét tự động và cơ chế phối hợp nhanh giữa chủ thể quyền, nền tảng số, doanh nghiệp cung cấp hạ tầng và cơ quan nhà nước.

Pháp luật tạo hành lang, nhưng trong môi trường số, công nghệ phải trở thành một phần của năng lực thực thi pháp luật.

AI: Không chỉ hỏi “ai là tác giả?”

Sự xuất hiện của AI tạo sinh đang đẩy sở hữu trí tuệ đến những ranh giới pháp lý mới. Câu hỏi thường được đặt ra là: sản phẩm do AI tạo ra thuộc về ai? Nhưng đó mới chỉ là một nửa vấn đề. Nửa còn lại nằm ở phía trước quá trình tạo ra sản phẩm: AI đã học từ đâu?

Hình ảnh minh họa. Nguồn: AI.

Hình ảnh minh họa. Nguồn: AI.

Để tạo văn bản, hình ảnh, âm nhạc và nhiều sản phẩm khác, các mô hình AI được huấn luyện trên khối lượng dữ liệu rất lớn. Trong đó có thể có những tác phẩm, hình ảnh, phần mềm và dữ liệu đang được bảo hộ.

Từ đây phát sinh những câu hỏi pháp lý không đơn giản: giới hạn nào cho việc khai thác dữ liệu? Trường hợp nào phải xin phép? Trường hợp nào thuộc giới hạn quyền? Chủ thể quyền có cơ chế nào để kiểm soát việc sử dụng tác phẩm của mình? Khi một sản phẩm có cả đóng góp của con người và sự hỗ trợ của AI, đâu là phần sáng tạo được pháp luật bảo hộ?

Đây không phải câu chuyện riêng của Việt Nam. Thách thức đặt ra không phải là làm cho pháp luật chạy nhanh hơn mọi phiên bản công nghệ mới - điều gần như không thể - mà là xây dựng những nguyên tắc pháp lý đủ bền vững để thích ứng với sự thay đổi của công nghệ, đồng thời bảo đảm cân bằng giữa quyền của người sáng tạo, nhu cầu tiếp cận tri thức và không gian cần thiết cho đổi mới.

Công nghệ có thể làm thay đổi phương thức sáng tạo, nhưng không nên làm giảm giá trị của lao động sáng tạo con người.

Bảo hộ không phải dựng một “bức tường”

Một hệ thống sở hữu trí tuệ mạnh không đồng nghĩa với việc mọi tri thức đều phải bị khóa lại. Bảo hộ quá yếu làm suy giảm động lực sáng tạo, nhưng bảo hộ thiếu cân bằng cũng có thể làm tăng chi phí tiếp cận tri thức và hạn chế phổ biến công nghệ.

Bài toán chính sách, vì thế, không phải lựa chọn giữa bảo vệ và chia sẻ, mà là tạo cơ chế để hai mục tiêu ấy bổ trợ cho nhau. Người sáng tạo phải được hưởng thành quả chính đáng, doanh nghiệp phải có khả năng bảo vệ công nghệ cốt lõi; đồng thời, thị trường cần những cơ chế cấp phép, định giá, chuyển giao và thương mại hóa thuận lợi để tài sản trí tuệ có thể lưu chuyển hợp pháp.

Theo TS. Luật sư Hồ Minh Khánh: “Giá trị của bảo hộ không phải là giữ công nghệ đứng yên phía sau hàng rào quyền sở hữu, mà là tạo đủ niềm tin để chủ sở hữu sẵn sàng đưa công nghệ ra giao dịch, còn người nhận có cơ hội tiếp cận, hấp thụ và tiếp tục đổi mới. Khi đó, quyền sở hữu trí tuệ mới thực sự trở thành tài sản của nền kinh tế”.

“Hạ tầng niềm tin” cho đổi mới sáng tạo

Một nền kinh tế đổi mới sáng tạo không chỉ cần hạ tầng số, phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu hay nguồn vốn. Nó còn cần một thứ hạ tầng khó nhìn thấy hơn: “hạ tầng niềm tin”.

Đó là niềm tin của nhà khoa học rằng kết quả nghiên cứu của mình được ghi nhận; của người sáng tạo rằng tác phẩm không dễ dàng bị chiếm đoạt; của doanh nghiệp rằng khoản đầu tư cho nghiên cứu và phát triển có cơ hội được thu hồi; của chủ sở hữu công nghệ rằng bí quyết được bảo vệ khi chuyển giao; và của nhà đầu tư rằng những tài sản vô hình có giá trị lớn được bảo đảm bằng một hệ thống pháp luật có khả năng thực thi trên thực tế.

"Hạ tầng niềm tin” không được xây bằng bê tông. Nó được tạo nên bởi pháp luật minh bạch, cơ quan thực thi hiệu quả, dữ liệu đáng tin cậy, công nghệ bảo vệ quyền, trách nhiệm của các nền tảng, ý thức của doanh nghiệp và văn hóa tôn trọng thành quả sáng tạo.

Theo TS. Luật sư Hồ Minh Khánh, đây là một trong những phần khó xây dựng nhất của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Một đạo luật có thể được ban hành tại một thời điểm xác định, một thiết chế có thể được thành lập bằng một quyết định, nhưng niềm tin của nhà khoa học và doanh nghiệp chỉ có thể được bồi đắp qua thực tiễn, khi họ thấy rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình được bảo vệ nhanh chóng, công bằng và hiệu quả.

Niềm tin không được tạo ra chỉ bằng lời cam kết. Niềm tin được tạo ra từ hiệu lực thực tế của pháp luật.

Hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam. Nguồn: Báo Công Thương.

Hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam. Nguồn: Báo Công Thương.

Và khi nhìn sở hữu trí tuệ dưới góc độ ấy, chống xâm phạm quyền không còn là công việc nằm ở cuối chuỗi, chờ đến khi vi phạm xảy ra mới xử lý. Bảo vệ sở hữu trí tuệ phải được đặt ngay từ đầu chuỗi đổi mới sáng tạo, bởi nếu mắt xích này không đủ tin cậy, dòng vốn cho nghiên cứu, khả năng thương mại hóa và dòng chảy chuyển giao công nghệ đều có thể bị ảnh hưởng.

Đó cũng là lý do sở hữu trí tuệ cần được nhìn nhận như một bộ phận của hạ tầng cho đổi mới sáng tạo, chứ không chỉ là một lĩnh vực pháp luật chuyên ngành.

Từ “dùng miễn phí” đến tôn trọng giá trị sáng tạo

Dù pháp luật hoàn thiện đến đâu, cuộc chiến chống xâm phạm sở hữu trí tuệ cũng không thể chỉ giao cho cơ quan nhà nước. Ở phía cuối của chuỗi vi phạm vẫn tồn tại một yếu tố quan trọng: nhu cầu sử dụng sản phẩm vi phạm.

Khi người tiêu dùng lựa chọn phim lậu, phần mềm không bản quyền hay hàng hóa giả nhãn hiệu chỉ vì miễn phí hoặc rẻ hơn, thị trường cho hành vi xâm phạm vẫn còn đất tồn tại.

Sự thay đổi vì thế còn phải diễn ra trong nhận thức xã hội. Phía sau một sản phẩm trí tuệ không phải là một “thứ có sẵn trên mạng”, mà là lao động, vốn đầu tư và quyền lợi chính đáng của người khác.

Có một thay đổi tưởng như rất nhỏ nhưng mang ý nghĩa lớn: từ câu hỏi “Tại sao phải trả tiền khi trên mạng có bản miễn phí?” sang câu hỏi “Ai đã bỏ công sức để tôi có sản phẩm này?”

Khi xã hội bắt đầu đặt câu hỏi thứ hai nhiều hơn, bảo vệ sở hữu trí tuệ sẽ không còn chỉ dựa vào chế tài. Nó trở thành một phần của văn hóa trong nền kinh tế tri thức.

Giữ lý do để con người tiếp tục sáng tạo

Việt Nam đang đứng trước cơ hội để khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành những động lực quan trọng của phát triển. Nhưng sẽ khó xây dựng một nền kinh tế đổi mới sáng tạo nếu người tạo ra giá trị trí tuệ luôn phải lo lắng thành quả của mình có thể bị sao chép mà không được bảo vệ tương xứng.

Từ góc độ nghiên cứu pháp luật về chuyển giao công nghệ, TS. Luật sư Hồ Minh Khánh cho rằng đích đến của chính sách công nghệ không chỉ là có thêm bao nhiêu hợp đồng chuyển giao, mà quan trọng hơn là sau những hợp đồng ấy, nền kinh tế giữ lại được gì cho năng lực công nghệ của chính mình.

Một dây chuyền có thể mua được, một thiết bị có thể nhập khẩu, một quy trình có thể nhận chuyển giao; nhưng năng lực làm chủ, cải tiến và tiếp tục sáng tạo chỉ hình thành khi con người và doanh nghiệp thực sự hấp thụ được tri thức nằm phía sau công nghệ. Giá trị cao hơn của chuyển giao, vì thế, phải là quá trình đi từ tiếp nhận đến hấp thụ, làm chủ, cải tiến và cuối cùng là sáng tạo công nghệ mới.

Một đất nước có thể đi nhanh hơn bằng cách tiếp nhận những thành tựu công nghệ của thế giới, nhưng muốn đi xa và tạo dựng năng lực cạnh tranh bền vững thì phải từng bước hình thành năng lực sáng tạo của chính mình.

Muốn có năng lực ấy, người sáng tạo phải có lý do để tiếp tục sáng tạo, doanh nghiệp phải có lý do để tiếp tục đầu tư và người sở hữu công nghệ phải có đủ niềm tin để chuyển giao.

Bảo vệ tài sản trí tuệ, vì thế, không chỉ là bảo vệ những gì đã được sáng tạo hôm nay. Đó còn là giữ lại lý do để con người tiếp tục sáng tạo vào ngày mai.

Ánh Tuyết - Trạng Tư

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/bao-ve-tai-san-tri-tue-giu-nguon-luc-cho-doi-moi-sang-tao-1760405.html