Bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ có thể phòng ngừa và điều trị hiệu quả
Theo ước tính mới nhất, thế giới ghi nhận gần 2,5 triệu ca mắc mới và gần 700.000 ca tử vong do ung thư vú trong năm 2024. Đây là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ, song nhiều trường hợp có thể phòng ngừa và điều trị hiệu quả nếu được phát hiện sớm.

Tháng 10 hằng năm là Tháng Nâng cao nhận thức về ung thư vú trên toàn cầu, nâng cao nhận thức cộng đồng về phòng ngừa, phát hiện sớm và điều trị căn bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ.
Ung thư vú phổ biến thứ hai trên thế giới
Ung thư vú hiện là loại ung thư phổ biến thứ hai trên thế giới và đứng đầu trong số các bệnh ung thư ở phụ nữ. Đáng chú ý, ung thư vú cũng là nguyên nhân gây tử vong do ung thư hàng đầu ở nữ giới.
Tại Việt Nam, theo Cục Bà mẹ và Trẻ em (Bộ Y tế), ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới, với 24.563 ca mắc mới và khoảng 10.000 ca tử vong mỗi năm.
Đáng chú ý, hơn 60% người bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn (III-IV), tỷ lệ sống thêm sau 5 năm chỉ đạt khoảng 74%, thấp hơn so với nhiều quốc gia phát triển.
Theo số liệu do Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) công bố nhân Tháng Nhận thức về Ung thư vú năm 2026, trong năm 2024, toàn cầu có gần 2,5 triệu người mắc mới và gần 700.000 người tử vong vì căn bệnh này.
Béo phì và sử dụng đồ uống có cồn là hai yếu tố được xác định liên quan hình thành bệnh. Ước tính trong năm 2022, hơn 250.000 ca ung thư vú trên thế giới có nguyên nhân liên quan hai yếu tố này.
Bộ ước tính toàn cầu về tỷ lệ sống sau 5 năm của bệnh nhân ung thư vú cho thấy sự chênh lệch lớn về cơ hội sống giữa các quốc gia. Tỷ lệ này tại các nước thu nhập cao đạt 87,3%, còn tại các nước thu nhập thấp chỉ là 41,9%.
Khó khăn trong phát hiện và điều trị bệnh cũng phụ thuộc vào khả năng tiếp cận các dịch vụ sàng lọc, chẩn đoán và điều trị của mỗi quốc gia. Các nghiên cứu cho thấy nhiều trường hợp ung thư vú có thể phòng ngừa thông qua việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ.
Phát hiện sớm và thay đổi lối sống để giảm nguy cơ bệnh
Theo WHO, khoảng 80% trường hợp ung thư vú được ghi nhận ở phụ nữ không có yếu tố nguy cơ đặc hiệu nào ngoài giới tính và tuổi tác. Ngoài ra, nguy cơ mắc bệnh còn có liên quan một số yếu tố như thừa cân, béo phì, sử dụng đồ uống có cồn, hút thuốc lá và tiền sử gia đình mắc bệnh.

Bệnh có thể đến từ nhiều nguy cơ. (Ảnh hỗ trợ tạo bởi AI)
Điều này cho thấy bên cạnh việc duy trì lối sống lành mạnh, phụ nữ cần chủ động theo dõi sức khỏe và nhận biết các dấu hiệu bất thường, thực hiện sàng lọc phù hợp để phát hiện bệnh từ sớm.
WHO cũng khuyến cáo phụ nữ cần chú ý những thay đổi bất thường như xuất hiện khối u hoặc vùng mô dày lên, thay đổi kích thước hay hình dạng vú, da vú lõm hoặc đỏ, núm vú biến dạng hay tiết dịch bất thường, đặc biệt là dịch có máu.
Đối với phụ nữ chưa có triệu chứng, chụp X-quang tuyến vú là một trong những phương pháp sàng lọc quan trọng. Theo WHO, sàng lọc bằng phương pháp này thường được áp dụng cho phụ nữ từ 50 đến 69 tuổi.
Bộ Y tế đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về phòng, chống ung thư vú và ung thư cổ tử cung giai đoạn 2026-2035, mục tiêu giảm trung bình 2,5% tỷ lệ tử vong do ung thư vú mỗi năm. Đến năm 2035, phấn đấu có 70% phụ nữ từ 40-70 tuổi được sàng lọc định kỳ.
Các hoạt động tập trung vào mở rộng khả năng tiếp cận sàng lọc, thúc đẩy đưa hoạt động sàng lọc ung thư vú vào danh mục bảo hiểm y tế chi trả; nâng cao năng lực chẩn đoán, điều trị tại các cơ sở y tế.
Việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong phát hiện và điều trị bệnh, cùng với xây dựng hệ thống dữ liệu sức khỏe liên thông, cũng được xác định là những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, theo dõi lâu dài và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh.


