Bí mật phục kích, bất ngờ hạ máy bay địch

Đầu năm 1966, Tiểu đoàn 64, Trung đoàn Tên lửa 236 (nay thuộc Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không-Không quân) được lệnh vào chiến trường Thanh Hóa bảo vệ sân bay Sao Vàng và cầu Hàm Rồng. Trận địa đầu tiên đặt tại đồi Sim, huyện Triệu Sơn, nhằm đánh máy bay hải quân Mỹ theo đường bay từ Tĩnh Gia qua phía Nam núi Nưa vào đánh phá sân bay Sao Vàng. Sau một thời gian theo dõi, đơn vị nhận thấy máy bay địch thường bay thấp, tham số đường bay lớn, điều kiện xạ kích không thuận lợi. Tiểu đoàn đề nghị trên cho cơ động ra ven biển Sầm Sơn để phục kích, đón lõng máy bay địch. Được cấp trên đồng ý, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Ninh giao nhiệm vụ cho đồng chí Trần Xuân Khuyến, Phó đại đội trưởng Kỹ thuật Đại đội 1 phụ trách tổ trinh sát đi tìm trận địa từ Sầm Sơn đến Đò Lèn.

Tại xã Quảng Giao, cách phía Nam Sầm Sơn khoảng 2km, tổ trinh sát phát hiện một bãi mạ khô dài hơn 100m, rộng khoảng 60m, được che chắn bởi lũy tre và các khóm dừa. Qua kiểm tra, đo đạc và tính toán đường cơ động, các bộ phận thống nhất đây là vị trí thích hợp để bố trí 3 bệ phóng, đài điều khiển và ra-đa. Trận địa chỉ cách biển khoảng 800m, có điều kiện ngụy trang tốt.

Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 64, Trung đoàn 236 sau trận thắng đầu năm 1967. Ảnh tư liệu 

Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 64, Trung đoàn 236 sau trận thắng đầu năm 1967. Ảnh tư liệu 

Khi biết trận địa có thể ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống nhân dân, tổ trinh sát báo cáo với chính quyền xã. Lãnh đạo địa phương khẳng định nhân dân sẵn sàng phá dỡ rau màu, vườn nhà để giúp bộ đội, với mong muốn bắn rơi máy bay Mỹ ngay trên quê hương Thanh Hóa. 17 giờ ngày 15-2-1966, Tiểu đoàn 64 cơ động về Quảng Giao. Đêm khuya, dân quân, thanh niên, phụ nữ địa phương vẫn chờ sẵn, giúp bộ đội làm đường, chuẩn bị trận địa và ngụy trang khí tài. Đến 2 giờ ngày 16-2, trận địa hoàn thành, sẵn sàng chiến đấu.

Trong quá trình kiểm tra khí tài, tín hiệu trả lời của đạn không ổn định. Tổ kỹ thuật khẩn trương kiểm tra và xác định hệ phát lệnh vẫn tốt. Sau hơn một giờ sửa chữa, tín hiệu cả 3 rãnh tên lửa đều sáng rõ, khí tài sẵn sàng chiến đấu. Đúng lúc đó, ra-đa phát hiện mục tiêu từ khu vực Đồng Giao bay về phía trận địa. Tiểu đoàn trưởng quyết định chuyển từ phương án đánh đêm sang đánh ngày. Mục tiêu ở cự ly 18km, độ cao 4.000m, tốc độ khoảng 200m/s, tham số đường bay bằng 0. Tiểu đoàn trưởng lệnh phóng 2 quả tên lửa, giãn cách 6 giây, nhưng tình huống diễn ra quá nhanh. Khi mục tiêu vào cự ly 14km, sĩ quan điều khiển chỉ kịp phóng một quả tên lửa, gặp mục tiêu. Kỹ thuật viên Ngô Việt hô lớn: “Máy bay bốc cháy!”. Chiếc máy bay RF-4C của Mỹ cháy như quả cầu lửa, bay qua đầu đài điều khiển rồi rơi xuống cách trận địa khoảng 600m. Lúc đó là 13 giờ 31 phút ngày 18-2-1966.

Trận đánh diễn ra rất nhanh và bất ngờ, khiến phi công địch không kịp sử dụng nhiễu, không kịp tránh tên lửa. Chiến thắng tại Quảng Giao cho thấy hiệu quả của cách đánh chủ động cơ động, bí mật phục kích, tạo thế bất ngờ, đánh địch vào hướng và thời điểm chúng không ngờ tới. Thành công ấy là kết quả của sự hiệp đồng chặt chẽ, tinh thần xử trí nhanh của kíp chiến đấu, sự bảo đảm kỹ thuật kịp thời và đặc biệt là sự giúp đỡ hết lòng của nhân dân địa phương, góp phần tạo nên thế trận chiến tranh nhân dân hiệu quả.

SƠN BÌNH (ghi theo lời kể của Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Phạm Trương Uy, nguyên sĩ quan điều khiển Tiểu đoàn 64, Trung đoàn 236).

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/quoc-phong-an-ninh/nghe-thuat-quan-su-vn/bi-mat-phuc-kich-bat-ngo-ha-may-bay-dich-1059338