Biến áp lực già hóa dân số thành dư địa tăng trưởng
Già hóa dân số đang làm gia tăng nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, chăm sóc dài hạn và các sản phẩm, dịch vụ dành cho người cao tuổi. Cùng với những thách thức đặt ra đối với hệ thống an sinh và chăm sóc, xu hướng này cũng đang mở ra dư địa phát triển cho kinh tế bạc tại Việt Nam.
Theo dự báo của Cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), đến năm 2034, tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên sẽ đạt 14% dân số, đưa Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn dân số già; đến năm 2050, số người từ 80 tuổi trở lên được dự báo tăng gấp 3 lần so với hiện nay.
Quy mô dân số cao tuổi ngày càng lớn kéo theo nhu cầu đa dạng hơn, không chỉ về chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, chăm sóc dài hạn mà còn ở dịch vụ tại nhà, dinh dưỡng, thiết bị trợ giúp và các sản phẩm gắn với chất lượng sống, khả năng tự chủ của người cao tuổi. Đây cũng là nền tảng để thị trường kinh tế bạc từng bước mở rộng. Áp lực chăm sóc đã hiện hữu khá rõ. Theo Bộ Y tế, năm 2026 Việt Nam có khoảng 16,5 triệu người từ 60 tuổi trở lên; tuổi thọ trung bình đạt 74,7 năm nhưng số năm sống khỏe mạnh chỉ khoảng 65,4 năm. Khoảng 60,9% người cao tuổi mắc từ 3 bệnh trở lên, 55% gặp khó khăn khi đi lại và 45% gặp ít nhất một khó khăn trong sinh hoạt hằng ngày.
Trong khi nhu cầu ngày càng lớn, nguồn nhân lực chăm sóc vẫn còn khoảng trống. Ông Phạm Đức Mục, Chủ tịch Hiệp hội Điều dưỡng Việt Nam cho biết, Việt Nam chưa chính thức công nhận nghề nhân viên chăm sóc người cao tuổi phi y tế. Theo ông, cần sớm xây dựng chuẩn năng lực và chương trình đào tạo phù hợp để hình thành đội ngũ đáp ứng nhu cầu chăm sóc tại gia đình, cộng đồng và các cơ sở dưỡng lão.
Cùng bàn về vấn đề này, Phó giáo sư Catherine Earl, Khoa Truyền thông và Thiết kế, Đại học RMIT Việt Nam đề xuất kết hợp đào tạo tại nơi làm việc, đào tạo chính quy và thu hút có chọn lọc lao động tay nghề cao. Theo chuyên gia trên, các chứng chỉ vi mô với các mô-đun ngắn, tập trung vào kỹ năng có thể giúp nhanh chóng nâng cao năng lực của người làm công tác chăm sóc. Cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp tại khu vực nông thôn, nơi khoảng 70% người cao tuổi đang sinh sống nhưng dịch vụ hỗ trợ chính thức còn hạn chế.
Nhưng nhân lực chỉ là một phần của bài toán. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, đầu tư cho cơ sở vật chất và hạ tầng chăm sóc cũng cần được mở rộng. Bà Pauline Tamesis, Điều phối viên thường trú Liên Hợp Quốc tại Việt Nam cho rằng cần gia tăng cả đầu tư công và đầu tư tư nhân vào lĩnh vực này. Theo bà, những công cụ như miễn, giảm thuế và tín dụng lãi suất thấp có thể góp phần thu hút đầu tư.
Cùng với các dịch vụ chăm sóc truyền thống, công nghệ cũng đang mở ra một hướng phát triển mới. Theo Phó giáo sư Catherine Earl, các nền tảng y tế số, công cụ giao tiếp số và các giải pháp AgeTech (công nghệ cho người cao tuổi) có tiềm năng hỗ trợ người cao tuổi sống khỏe mạnh, độc lập hơn. Tuy nhiên, hiệu quả của công nghệ còn phụ thuộc vào hạ tầng internet, hỗ trợ kỹ thuật, kỹ năng số của người sử dụng cũng như các cơ chế bảo vệ quyền riêng tư và quyền tự chủ của người cao tuổi.

Mở dư địa cho kinh tế bạc. Ảnh minh họa
Những nhu cầu ngày càng đa dạng cũng mở ra không gian để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào thị trường kinh tế bạc. Từ chăm sóc tại nhà, cơ sở dưỡng lão, phục hồi chức năng đến công nghệ hỗ trợ và các dịch vụ nâng cao chất lượng sống, dư địa phát triển của các sản phẩm, dịch vụ dành cho người cao tuổi ngày càng lớn.
Song, để doanh nghiệp có thể đầu tư dài hạn, thị trường cần một hành lang pháp lý rõ ràng hơn, cùng các tiêu chuẩn về chất lượng dịch vụ, nhân lực và cơ chế phối hợp giữa khu vực công và tư. Khi những điều kiện này được hoàn thiện, nguồn lực xã hội có thể được huy động tốt hơn, đồng thời tạo cơ sở để các mô hình chăm sóc phát triển theo hướng chuyên nghiệp và bền vững hơn.
Tiềm năng của kinh tế bạc vì thế không chỉ nằm ở quy mô tiêu dùng của một nhóm dân số ngày càng lớn, mà còn ở khả năng hình thành một hệ sinh thái đáp ứng những nhu cầu mới, từ nhân lực chăm sóc, dịch vụ cộng đồng đến hạ tầng, vốn và công nghệ.
Từ áp lực già hóa dân số, một thị trường mới đang dần hình thành. Khả năng biến thị trường đó thành động lực tăng trưởng sẽ phụ thuộc vào việc Việt Nam có sớm chuyên nghiệp hóa lực lượng chăm sóc, thu hút đầu tư và xây dựng được khung chính sách đủ rõ cho kinh tế bạc phát triển hay không.
