Biến giá trị rừng thành nguồn lực phát triển kinh tế xanh
Nghị định số 180/2026/NĐ-CP của Chính phủ về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng có hiệu lực từ ngày 15-7-2026 mở ra cơ hội khai thác hiệu quả giá trị kinh tế từ tài nguyên rừng.
Phóng viên Báo và phát thanh, truyền hình Gia Lai có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Văn Hoan, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường về tiềm năng, cơ hội và định hướng phát triển thị trường carbon rừng của tỉnh.
* Thưa ông, Nghị định số 180/2026/NĐ-CP có ý nghĩa như thế nào đối với việc khai thác giá trị kinh tế từ tài nguyên rừng của tỉnh?

Ông NGUYỄN VĂN HOAN, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường
- Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 180/2026/NĐ-CP đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc hình thành hành lang pháp lý cho thị trường carbon rừng tại Việt Nam. Đối với tỉnh, Nghị định mang nhiều ý nghĩa chiến lược.
Trước hết, đây là cơ sở pháp lý để chuyển hóa giá trị sinh thái của rừng thành nguồn lực tài chính xanh thông qua việc lượng hóa khả năng hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net Zero).
Bên cạnh đó, Nghị định tạo nền tảng để cơ cấu lại ngành lâm nghiệp theo hướng phát triển kinh tế rừng hiện đại, bền vững, từng bước chuyển từ mô hình bảo vệ rừng chủ yếu dựa vào ngân sách sang huy động nguồn vốn đầu tư xanh theo cơ chế thị trường.
Đặc biệt, nguồn thu từ dịch vụ carbon rừng sẽ được ưu tiên tái đầu tư cho công tác bảo vệ, phát triển rừng và hỗ trợ sinh kế cho cộng đồng dân cư trực tiếp giữ rừng.
Đây là cơ chế tạo động lực để người dân vùng sâu, vùng xa gắn bó hơn với rừng, góp phần bảo vệ tài nguyên rừng một cách bền vững.
* Với gần 1 triệu ha rừng, tỉnh có những lợi thế gì khi tham gia thị trường tín chỉ carbon rừng, thưa ông?
- Lợi thế lớn nhất của tỉnh chính là quy mô và chất lượng tài nguyên rừng. Theo công bố hiện trạng rừng năm 2025, toàn tỉnh có hơn 986.600 ha đất có rừng, trong đó, rừng tự nhiên hơn 692.000 ha, rừng trồng gần 294.500 ha; tỷ lệ che phủ rừng đạt 45,72%.
Nghị định số 180/2026/NĐ-CP mở rộng phạm vi các hoạt động tạo tín chỉ carbon từ các dự án giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng (REDD+), trồng rừng mới, xúc tiến tái sinh tự nhiên, làm giàu rừng, quản lý rừng bền vững đến các mô hình nông lâm kết hợp.
Với diện tích rừng tự nhiên lớn, cùng diện tích rừng trồng và hơn 45.900 ha đang trong giai đoạn hình thành rừng, Gia Lai có dư địa rất lớn để phát triển các dự án tạo tín chỉ carbon, góp phần nâng cao giá trị kinh tế từ tài nguyên rừng.

Lực lượng Trạm bảo vệ rừng số 8 tuần tra, bảo vệ rừng. Ảnh: ĐVCC
* Theo ông, nếu khai thác hiệu quả “nguồn vốn carbon”, tỉnh sẽ được hưởng những lợi ích gì?
- Đối với ngành lâm nghiệp, đây sẽ là bước chuyển từ khai thác giá trị trực tiếp của tài nguyên rừng sang khai thác giá trị dịch vụ hệ sinh thái và khả năng hấp thụ carbon. Khả năng hấp thụ CO₂ của rừng sẽ trở thành một loại hàng hóa đặc biệt có thể đo đếm và giao dịch trên thị trường.
Nguồn thu từ tín chỉ carbon cũng sẽ tạo ra dòng tài chính xanh bền vững, giúp thu hút các nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực lâm nghiệp, đồng thời hỗ trợ xây dựng hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV), hiện đại hóa công tác quản lý và bảo vệ rừng.
Đối với người dân, Nghị định xác lập quyền hưởng lợi trực tiếp của hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư tham gia các dự án carbon rừng. Khi rừng tạo ra nguồn thu ổn định, người dân sẽ có thêm động lực bảo vệ rừng thay vì khai thác tài nguyên.
Đồng thời, nguồn thu này còn được ưu tiên hỗ trợ sinh kế cho cộng đồng vùng đệm các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, góp phần phát triển kinh tế xanh ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa.

Lực lượng Kiểm lâm, Công an xã và đơn vị chủ rừng tổ chức tuần tra bảo vệ rừng. Ảnh: Minh Phương
* Gia Lai được ước tính có khả năng hấp thụ khoảng 4,9 triệu tấn CO₂ mỗi năm. Theo ông, dư địa phát triển nguồn thu từ tín chỉ carbon trong thời gian tới ra sao?
- Đây là tiềm năng rất lớn. Nghị định số 180/2026/NĐ-CP đã quy định phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, tạo cơ sở để triển khai thị trường trong thực tế.
Khi thị trường carbon trong nước đi vào vận hành và từng bước kết nối với thị trường quốc tế, nhu cầu bù trừ phát thải của DN sẽ tăng lên.
Theo quy định hiện hành, các cơ sở phát thải vượt hạn ngạch được phép sử dụng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng để bù trừ tối đa 30% nghĩa vụ giảm phát thải khí nhà kính. Đây là cơ hội để tỉnh thu hút nguồn vốn đầu tư xanh trong và ngoài nước vào lĩnh vực lâm nghiệp.












