Bình dân học vụ số bắt đầu từ cuộc sống
“Bình dân học vụ số” phải bắt đầu từ các nhu cầu thực tế, hỗ trợ người dân dễ dàng giải quyết những công việc hằng ngày.

ThS. Trịnh Hoàng Xuân Phúc. (Ảnh NVCC)
Là người nhiều năm có kinh nghiệm trong công tác truyền thông tại Trường ĐH Kinh tế - Kỹ thuật Bình Dương trong vai trò Giám đốc Trung tâm Truyền thông và Tư vấn hướng nghiệp, ThS. Trịnh Hoàng Xuân Phúc trao đổi với Báo Thế giới & Việt Nam về bình dân học vụ số.
Người dân thường chỉ muốn học khi kiến thức giúp giải quyết ngay một nhu cầu như làm thủ tục hành chính, thanh toán, bán hàng, khám bệnh hay bảo vệ tài khoản. Theo anh, chương trình “bình dân học vụ số” nên được xây dựng từ giáo trình có sẵn hay từ những tình huống thực tế này?
Theo tôi, giáo trình “bình dân học vụ số” phải bắt đầu từ các nhu cầu thực tế, hỗ trợ người dân dễ dàng tiếp cận công nghệ để giải quyết những công việc hằng ngày như các thủ tục hành chính, thanh toán số, khám bệnh, bán hàng trực tuyến hay bảo vệ tài khoản trước các hành vi lừa đảo tinh vi.
Do đó, tôi cho rằng chương trình nên thiết kế theo hướng “học đến đâu, làm được đến đó”, lấy các tình huống thực tế trong cuộc sống làm trung tâm, sau đó hệ thống hóa thành các chuyên đề. Mỗi bài học nên giải quyết một nhu cầu cụ thể với hàm lượng kiến thức vừa đủ để đáp ứng cho mọi trình độ, lứa tuổi; ngôn ngữ dễ hiểu; nhiều hình ảnh trực quan và có hướng dẫn thực hành ngay trên điện thoại thông minh. Quan trọng hơn, mục tiêu của nội dung không chỉ là truyền đạt kiến thức số mà phải hình thành tư duy năng lực số, giúp mỗi người dân tự tin sử dụng công nghệ an toàn, hiệu quả trong công việc và cuộc sống.
Làm thế nào để thiết kế nội dung dễ học, dễ nhớ, dễ thực hành cho người cao tuổi, người ít sử dụng công nghệ hoặc có trình độ học vấn khác nhau? Những bài học ngắn trên nền tảng số có đủ hay vẫn cần người hướng dẫn trực tiếp?
Muốn triển khai chương trình "bình dân học vụ số” đạt hiệu quả, nên nghiên cứu thiết kế nội dung đơn giản, trực quan và dễ thực hành. Mỗi bài học chỉ nên tập trung vào một kỹ năng cụ thể, sử dụng ngôn ngữ “bình dân” không mang nặng tính học thuật, chọn lọc hình ảnh minh họa và video ngắn trực quan, giúp người mới tiếp cận có thể làm theo từng bước trên chính điện thoại của mình.
Tuy nhiên, chỉ có nền tảng số thôi là chưa đủ. Với người cao tuổi hoặc người ít tiếp cận công nghệ, vẫn rất cần đội ngũ “đi từng ngõ, gõ từng nhà” hướng dẫn trực tiếp tại cộng đồng như tổ công nghệ số, đoàn viên, sinh viên hay tình nguyện viên. Mô hình kết hợp giữa học trực tuyến và cầm tay chỉ việc sẽ giúp người dân vượt qua tâm lý e ngại, hình thành kỹ năng và tự tin sử dụng công nghệ trong cuộc sống hằng ngày. Đây cũng là cách để “bình dân học vụ số” thực sự đi vào cuộc sống, không để ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình chuyển đổi số của đất nước.
Học sinh, sinh viên, đoàn viên và giáo viên có thể trở thành lực lượng hỗ trợ người dân học kỹ năng số. Theo ông, cần tổ chức mạng lưới “người hướng dẫn số” thế nào để hoạt động này có chuyên môn, trách nhiệm và tính bền vững?
Theo Kế hoạch số 01-KH/BCĐTW ngày 21/3/2025 về kế hoạch triển khai phong trào “bình dân học vụ số” của Ban chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, các chỉ tiêu của năm 2026 so với năm 2025 được nâng lên rõ rệt cả về phạm vi và chất lượng. Theo đó, tỉ lệ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động khu vực công; người dân trưởng thành; người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã được trang bị kiến thức và kỹ năng số đều tăng từ 80% lên 100%. Đối tượng học sinh cũng được mở rộng từ học sinh trung học và sinh viên sang 100% học sinh từ cấp tiểu học, giúp hình thành năng lực số từ sớm. Đồng thời, số người trưởng thành được xác nhận đạt chuẩn phổ cập tri thức và kỹ năng số trên nền tảng VNeID tăng từ 40 triệu lên 60 triệu người.
Học sinh, sinh viên, đoàn viên thanh niên và giáo viên hoàn toàn có thể trở thành “người hướng dẫn số” nếu được tổ chức bài bản, thống nhất về nội dung giáo trình. Mỗi xã/phường, cơ sở giáo dục cần xây dựng đội ngũ nhân sự nòng cốt được trang bị kiến thức, kỹ năng sư phạm và quy trình hướng dẫn nhất quán trước khi triển khai rộng rãi trong cộng đồng.
Bên cạnh đó, cần giao nhiệm vụ rõ ràng, có cơ chế ghi nhận, đánh giá và khen thưởng để có thể duy trì hoạt động lâu dài. Khi nhà trường, chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể cùng phối hợp, mạng lưới này sẽ không chỉ hỗ trợ người dân nâng cao kỹ năng số mà còn góp phần lan tỏa văn hóa học tập suốt đời và xây dựng cộng đồng số bền vững.

Lãnh đạo xã Hoài Đức (Hà Nội) kiểm tra hoạt động hỗ trợ người dân tham gia các tiện ích sỗ. (Ảnh: ĐH)
Công nghệ và các phương thức lừa đảo thay đổi rất nhanh. Giáo trình kỹ năng số cần được cập nhật theo cơ chế nào để không lạc hậu ngay sau khi ban hành?
Giáo trình “bình dân học vụ số” cần được xây dựng theo hướng mở, linh hoạt và tăng cường sự phối hợp giữa các bên liên quan. Bên cạnh vai trò định hướng của cơ quan quản lý, cần huy động trí lực của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực từ các trường đại học tham gia biên soạn và kiểm định nội dung.
Đồng thời, cần thường xuyên tổ chức các hội thảo, diễn đàn chuyên môn để chia sẻ kinh nghiệm, nhận diện các xu hướng và rủi ro mới; phản biện và cập nhật nội dung theo diễn tiến thực tế của tình hình biến động trong nước và quốc tế. Thông qua đó, tiếp tục ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào quá trình xây dựng và hoàn thiện giáo trình. Sự kết hợp giữa thực tiễn và nghiên cứu sẽ giúp nội dung luôn cập nhật, bám sát nhu cầu của người dân và thích ứng với tốc độ phát triển của công nghệ.
Sau một khóa học, nên đánh giá người học bằng bài kiểm tra kiến thức, chứng nhận hoàn thành hay khả năng thực hiện những nhiệm vụ cụ thể? Làm sao khuyến khích người dân tiếp tục tự học thay vì xem việc nhận chứng nhận là điểm kết thúc, theo anh?
Thước đo quan trọng nhất của “bình dân học vụ số” không phải là người học tham gia để đạt được giấy chứng nhận mà là họ ứng dụng vào thực tiễn những kiến thức gì đã học được sau khóa học. Chứng nhận chỉ là sự ghi nhận kết quả, không phải mục tiêu cuối cùng. Vì vậy, việc đánh giá nên dựa trên khả năng thực hiện các nhiệm vụ thực tế như sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán số, đặt lịch khám bệnh, bảo vệ tài khoản hay nhận diện các hình thức lừa đảo trên không gian mạng.
Để người dân tiếp tục tự học, cần xây dựng lộ trình học tập liên tục với các bài học ngắn, nội dung cập nhật thường xuyên và gắn với những nhu cầu mới trong cuộc sống. Khi người dân thấy mỗi kỹ năng mới đều mang lại lợi ích thiết thực, họ sẽ coi việc học kỹ năng số là một nhu cầu thường xuyên, chứ không dừng lại ở việc hoàn thành một khóa học hay nhận một giấy chứng nhận.
Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/binh-dan-hoc-vu-so-bat-dau-tu-cuoc-song-432545.html

