Bình đẳng giới ở Việt Nam sau 40 năm đổi mới: Thành tựu phản bác xuyên tạc

Không chỉ là sự thay đổi trong những bản thống kê. Sâu hơn những con số ấy là một chuyển động trong xã hội. Phụ nữ Việt Nam từ chỗ thường được nhìn nhận chủ yếu trong vai trò chăm sóc, hy sinh, hậu phương, nay ngày càng hiện diện rõ hơn như một chủ thể phát triển. Sự thay đổi vị thế ấy là câu trả lời thuyết phục nhất trước những luận điệu cố tình phủ nhận thành tựu nhân quyền, dân chủ và bình đẳng giới ở Việt Nam.

 Đại biểu Chamaleá Thị Thủy phát biểu về vấn đề bình đẳng giới tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI. Nguồn ảnh: quochoi.vn

Đại biểu Chamaleá Thị Thủy phát biểu về vấn đề bình đẳng giới tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI. Nguồn ảnh: quochoi.vn

Từ cam kết chính trị đến hành lang pháp lý

Bình đẳng giới, về bản chất, không chỉ là quyền lợi của phụ nữ. Đó là thước đo chất lượng phát triển. Một quốc gia muốn phát triển bền vững không thể để một nửa dân số đứng bên lề. Một nền dân chủ thực chất không thể thiếu tiếng nói, năng lực và sự tham gia của phụ nữ trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Một chính sách an sinh nhân văn không thể không tính đến phụ nữ, trẻ em gái, phụ nữ cao tuổi, phụ nữ dân tộc thiểu số, phụ nữ di cư, phụ nữ khuyết tật, phụ nữ nghèo và những nhóm dễ bị tổn thương. Một trong những cách nhìn sai lệch, đôi khi được ngụy trang dưới vỏ bọc "quan tâm đến quyền phụ nữ", là tách bình đẳng giới ra khỏi tiến trình phát triển chung của đất nước. Khi bị tách rời như vậy, vấn đề phụ nữ dễ bị biến thành một lát cắt đơn độc, bị soi chiếu bằng vài hiện tượng tiêu cực, rồi từ đó quy kết rằng Việt Nam "không có tiến bộ thực chất" về bình đẳng giới. Cách nhìn ấy vừa phiến diện, vừa thiếu trung thực.

Vì thế, nhìn bình đẳng giới ở Việt Nam sau 40 năm đổi mới cũng chính là nhìn vào năng lực của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội trong việc mở rộng cơ hội phát triển con người; nhìn vào mức độ tiến bộ của thể chế; nhìn vào khả năng chuyển hóa các cam kết chính trị thành luật pháp, chính sách và những thay đổi cụ thể trong đời sống. Từ góc nhìn đó, thành tựu bình đẳng giới ở Việt Nam không phải là một mảng màu phụ trong bức tranh đổi mới. Đó là một trong những chỉ dấu quan trọng của đường lối phát triển lấy con người làm trung tâm.

Không thể nói về bình đẳng giới ở Việt Nam mà bỏ qua nền tảng chính trị - pháp lý được hình thành bền bỉ trong nhiều thập niên. Từ chủ trương nghị quyết của Đảng, Hiến pháp, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Đất đai, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Trợ giúp pháp lý đến các chiến lược, chương trình quốc gia về bình đẳng giới. Trong những văn bản này, quyền của phụ nữ từng bước được cụ thể hóa thành quy định pháp luật, chỉ tiêu chính sách, nguồn lực thực hiện và trách nhiệm thực thi.

Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 đặt ra 6 mục tiêu và 20 chỉ tiêu cụ thể trong các lĩnh vực chính trị; kinh tế, lao động; gia đình và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới; y tế; giáo dục, đào tạo; thông tin, truyền thông. Tính đến cuối năm 2023, đã có 11/20 chỉ tiêu đạt và vượt mục tiêu đề ra vào năm 2025 và 3/20 chỉ tiêu đạt một phần so với mục tiêu đến năm 2030. Đây là bằng chứng cho thấy bình đẳng giới ở Việt Nam không chỉ nằm trong tuyên bố, mà đo đếm được bằng những con số cụ thể qua tiến độ chính sách.

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh, hoàn thành sớm Mục tiêu Thiên niên kỷ thứ 3 về bình đẳng giới. Việc Việt Nam được bầu vào Hội đồng Chấp hành Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ nhiệm kỳ 2025-2027 không phải là một danh hiệu ngoại giao đơn thuần, mà là sự ghi nhận đối với cam kết và đóng góp của Việt Nam trong một lĩnh vực đang trở thành ưu tiên toàn cầu.

Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội từ Khóa I đến Khóa XVI

Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội từ Khóa I đến Khóa XVI

Phụ nữ trong chính trị

Trong những luận điệu xuyên tạc về bình đẳng giới ở Việt Nam, có một thủ pháp quen thuộc: tuyệt đối hóa một vài khoảng cách còn tồn tại để phủ nhận toàn bộ tiến bộ đã đạt được. Họ nói về phụ nữ trong chính trị như thể phụ nữ Việt Nam vẫn đứng ngoài đời sống quyền lực. Thế nhưng, kết quả thực tế không ủng hộ cách nói ấy. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XV đạt 30,26%, Khóa XVI đạt 30%, thuộc nhóm cao trong khu vực và cao hơn mức trung bình toàn cầu. Trong ba nhiệm kỳ đại hội Đảng gần đây, tỷ lệ cán bộ nữ tham gia ban thường vụ, ban chấp hành ở cấp tỉnh, cấp xã đều tăng. Số liệu đầu nhiệm kỳ cho thấy, tỷ lệ nữ tham gia ban thường vụ nhiệm kỳ 2025 – 2030 tính chung trong cả nước, với cấp tỉnh tăng 3,3%, cấp xã tăng 5,52%...

Những con số ấy không có nghĩa là con đường tham chính của phụ nữ đã hết rào cản. Định kiến giới về năng lực lãnh đạo của phụ nữ vẫn còn. Áp lực gia đình, tuổi quy hoạch, cơ hội đào tạo, bố trí cán bộ... vẫn có thể tác động, tạo ra ảnh hưởng khác nhau giữa nam và nữ. Nhưng chính vì nhìn thấy các rào cản đó, Đảng và Nhà nước đã có các chương trình, đề án nhằm tăng cường sự tham gia bình đẳng của phụ nữ vào vị trí lãnh đạo, quản lý ở các cấp hoạch định chính sách. Điểm cốt lõi nằm ở đây: Việt Nam không phủ nhận khoảng cách mà đang từng bước thu hẹp khoảng cách. Đó là thái độ ứng xử có trách nhiệm, khác hẳn với cách xuyên tạc lấy hạn chế để phủ nhận bản chất.

Thí sinh thuyết trình tại vòng chung kết cuộc thi Phụ nữ khởi nghiệp năm 2024 do Trung ương Hội LHPN Việt Nam tổ chức. Ảnh: PVH

Thí sinh thuyết trình tại vòng chung kết cuộc thi Phụ nữ khởi nghiệp năm 2024 do Trung ương Hội LHPN Việt Nam tổ chức. Ảnh: PVH

Phụ nữ trong kinh tế

Trong đời sống kinh tế, hình ảnh phụ nữ Việt Nam sau đổi mới không còn bó hẹp trong khuôn mẫu "lao động phụ", "thu nhập phụ", "việc làm phụ". Phụ nữ tham gia mạnh mẽ vào thị trường lao động, vào khu vực doanh nghiệp, hợp tác xã, kinh tế hộ, kinh tế số, khởi nghiệp sáng tạo và các mô hình sinh kế mới. Năm 2021, tỷ lệ nữ trong tổng lao động là 46,5% và tỷ lệ này đạt 46,8% vào năm 2025. Tỷ lệ lao động nữ trong độ tuổi lao động đã qua đào tạo tăng từ 20,1% năm 2015 lên 25,3% năm 2025. Chiến lược Quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 đề ra mục tiêu phấn đấu tỉ lệ nữ giám đốc/chủ doanh nghiệp, hợp tác xã đạt ít nhất 30% vào năm 2030. Đằng sau những con số ấy cho thấy những thay đổi: quyền năng kinh tế của phụ nữ ngày càng trở thành một nội dung trọng yếu của bình đẳng giới. Bởi một người phụ nữ có sinh kế, có tài sản, có kỹ năng, có khả năng tiếp cận tín dụng, có quyền đứng tên trong các quan hệ tài sản, có vị thế trong sản xuất - kinh doanh thì tiếng nói của họ trong gia đình và xã hội cũng thay đổi. Đây chính là lý do các chính sách tài chính toàn diện, hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, tín dụng chính sách xã hội, tài chính vi mô, đào tạo nghề, chuyển đổi số cho phụ nữ, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa do phụ nữ làm chủ có ý nghĩa không chỉ về kinh tế, mà còn về dân chủ xã hội.

Tính đến tháng 6/2024, tổng số khách hàng nữ đứng tên vay vốn các chương trình tín dụng tại Ngân hàng Chính sách xã hội là 4,7 triệu người, chiếm 68% tổng số khách hàng đang còn dư nợ. Dư nợ ủy thác qua Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đạt trên 132 nghìn tỷ đồng với gần 2,6 triệu hộ vay vốn. Những con số này không ồn ào, nhưng rất cụ thể và có tính thuyết phục cao. Nguồn vốn vay đi vào vốn liếng làm ăn, con bò giống, cửa hàng nhỏ, ruộng vườn, máy móc sản xuất, lớp học nghề, quầy hàng online, hợp tác xã, tổ hợp tác của phụ nữ ở cơ sở. Chính ở đó, bình đẳng giới không còn là khái niệm xa xôi. Nó trở thành cơ hội cụ thể để một người phụ nữ nghèo có thể vay vốn, làm ăn, nuôi con học hành, thoát khỏi lệ thuộc và tự tin hơn trong đời sống.

Giáo dục, y tế, an sinh

Một thành tựu quan trọng khác là cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế và an sinh xã hội của phụ nữ, trẻ em gái ngày càng được cải thiện. Chính sách phổ cập giáo dục, hỗ trợ học phí, phát triển trường học ở vùng khó khăn, chăm sóc sức khỏe bà mẹ - trẻ em, bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội, giảm nghèo đa chiều, xây dựng nông thôn mới, chương trình mục tiêu quốc gia vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi… đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến phụ nữ. Ở nhiều địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bình đẳng giới không bắt đầu từ những diễn đàn lớn mà bắt đầu từ việc một bé gái được đến trường, một phụ nữ mang thai được tiếp cận dịch vụ y tế, một người mẹ có sinh kế tại chỗ, một nạn nhân bạo lực gia đình có nơi tạm lánh, một phụ nữ dân tộc thiểu số được tập huấn kỹ năng sản xuất, được nói lên nhu cầu của mình trước cộng đồng. Đó là bình đẳng giới theo nghĩa thiết thực nhất: không để phụ nữ và trẻ em gái bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển.

Vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ

Trong thành tựu bình đẳng giới ở Việt Nam, không thể không nhắc đến vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Đây là tổ chức đại diện chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, đồng thời là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với các tầng lớp phụ nữ. Với hệ thống tổ chức và kinh nghiệm vận động quần chúng gần 100 năm qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam luôn là lực lượng nòng cốt trong việc đưa chủ trương, chính sách về gần với đời sống. Một chính sách bình đẳng giới dù đúng đắn đến đâu cũng khó phát huy hiệu quả nếu không có lực lượng vận động, truyền thông, giám sát, hỗ trợ phụ nữ ở cơ sở. Từ hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp, tín dụng tiết kiệm, phòng chống bạo lực gia đình, xây dựng gia đình "5 không, 3 sạch", bảo vệ phụ nữ và trẻ em, đến tham gia góp ý, phản biện chính sách, Hội LHPN Việt Nam góp phần làm cho bình đẳng giới không chỉ là việc của cơ quan quản lý nhà nước, mà trở thành phong trào xã hội.

Trong bối cảnh mới, khi bình đẳng giới ngày càng gắn chặt với chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tri thức, an ninh con người, già hóa dân số, di cư lao động, an toàn trên không gian mạng, vai trò của tổ chức Hội càng cần được đổi mới. Phụ nữ không chỉ cần được bảo vệ trước những nguy cơ cũ, mà còn phải được trang bị năng lực để bước vào những không gian phát triển mới. Nói cách khác, bảo vệ quyền phụ nữ trong kỷ nguyên mới không chỉ là chống bạo lực, chống phân biệt đối xử, mà còn là bảo đảm phụ nữ không bị tụt lại trong kỹ năng số, tài chính số, tri thức mới, cơ hội việc làm mới và các mô hình phát triển mới.

Các đại biểu tại Diễn đàn Thường niên GEARS@VIETNAM 2026 chủ đề "Vai trò của lãnh đạo và văn hóa trong kiến tạo môi trường làm việc bền vững" - tháng 1/2026. Ảnh: Đình Hưng

Các đại biểu tại Diễn đàn Thường niên GEARS@VIETNAM 2026 chủ đề "Vai trò của lãnh đạo và văn hóa trong kiến tạo môi trường làm việc bền vững" - tháng 1/2026. Ảnh: Đình Hưng

Không né tránh hạn chế, bất cập

Sẽ là thiếu sót nếu nói về bình đẳng giới ở Việt Nam mà chỉ nói thành tựu. Nhưng cũng sẽ là thiếu trung thực nếu lấy những hạn chế còn tồn tại để phủ nhận toàn bộ tiến trình tiến bộ của đất nước. Bình đẳng giới, không chỉ ở Việt Nam mà tất cả các nước trên thế giới đều vẫn còn không ít vấn đề phải giải quyết. Tại Việt Nam, định kiến giới vẫn tồn tại trong gia đình và xã hội. Phụ nữ vẫn dành nhiều thời gian hơn nam giới cho công việc nội trợ, chăm sóc không lương. Thu nhập bình quân của lao động nam vẫn cao hơn lao động nữ. Phụ nữ còn tập trung nhiều trong khu vực phi chính thức, ngành nghề thâm dụng lao động, vị trí dễ bị tổn thương trước biến động kinh tế và tự động hóa. Bạo lực trên cơ sở giới, bạo lực gia đình, mua bán người, xâm hại phụ nữ và trẻ em vẫn còn xảy ra. Mất cân bằng giới tính khi sinh chưa được giải quyết căn cơ. Khoảng cách số có nguy cơ tạo thêm bất bình đẳng mới, nhất là với phụ nữ vùng sâu, vùng xa, phụ nữ cao tuổi, phụ nữ ít có điều kiện tiếp cận công nghệ. Nhưng phải phân biệt rất rõ giữa hạn chế của một quá trình phát triển với bản chất của chế độ. Các thế lực thù địch, phản động thường cố tình xóa nhòa ranh giới này. Họ lấy một vụ việc bạo lực gia đình để phủ nhận nỗ lực phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới; lấy một vụ xâm hại trẻ em để quy kết hệ thống chính sách bảo vệ trẻ em; lấy khoảng cách thu nhập nam - nữ để phủ nhận mọi tiến bộ về lao động, việc làm; lấy định kiến giới còn tồn tại trong một bộ phận xã hội để xuyên tạc rằng Việt Nam không có bình đẳng giới thực chất. Đó là cách lập luận không nhằm thúc đẩy quyền phụ nữ mà nhằm công kích chế độ.

Việc Việt Nam công khai nhận diện các vấn đề còn tồn tại trong báo cáo quốc gia, trong chiến lược, chương trình hành động, trong hệ thống chỉ tiêu và trong các diễn đàn quốc tế đã cho thấy một điều: chúng ta không né tránh mà thẳng thắn nhìn nhận những vấn đề đang phải đối mặt như công tác an sinh xã hội, đầu tư cho giáo dục, y tế, giảm nghèo, chăm lo nhóm dễ bị tổn thương.

Sau 40 năm đổi mới, từ một quốc gia có thu nhập bình quân đầu người chỉ khoảng 125-200 USD/năm, lạm phát từng lên tới 774,7% vào cuối năm 1986, Việt Nam đã vươn lên thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, quy mô nền kinh tế đạt trên 510 tỉ USD, thu nhập bình quân đầu người trên 5.000 USD. Nền tảng phát triển ấy tạo thêm nguồn lực để mở ra cơ hội phát triển cho phụ nữ. Thành tựu ấy không tự nhiên mà có. Nó là kết quả của đường lối đổi mới đúng đắn; của quan điểm phát triển con người; của sự tham gia của cả hệ thống chính trị; của nỗ lực bền bỉ từ Trung ương đến cơ sở; của hàng triệu phụ nữ Việt Nam đã vượt qua định kiến, khó khăn, giới hạn cũ để học tập, lao động, sáng tạo, cống hiến và khẳng định mình. Một đất nước chỉ thật sự mạnh khi mọi người dân đều có cơ hội phát triển. Một xã hội chỉ thật sự tiến bộ khi phụ nữ không bị giới hạn bởi định kiến.

-------------------------

Tài liệu tham khảo

- Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIII, XIV.

- Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam.

- Nghị quyết số 28/NQ-CP ngày 03/3/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030.

- Báo cáo quốc gia 30 năm thực hiện Tuyên bố và Cương lĩnh hành động Bắc Kinh tại Việt Nam giai đoạn 2019-2023.

- Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê Việt Nam năm 2023, Nxb Thống kê, Hà Nội.

- Chương trình Phát triển Liên hợp quốc, Báo cáo Phát triển con người 2023/2024.

Hoàng Đan

Nguồn Phụ Nữ VN: https://phunuvietnam.vn/binh-dang-gioi-o-viet-nam-sau-40-nam-doi-moi-thanh-tuu-phan-bac-xuyen-tac-238260530214912671.htm