Bộ Công Thương hợp nhất các quy định về quản lý, phát triển cụm công nghiệp

Văn bản hợp nhất số 71/2026/VBHN-BCT ngày 5/8/2026 của Bộ Công Thương hợp nhất các quy định về quản lý, phát triển cụm công nghiệp, từ xây dựng phương hướng, thành lập, mở rộng đến đầu tư hạ tầng, sản xuất kinh doanh, chính sách ưu đãi, hỗ trợ và quản lý nhà nước.

Văn bản hợp nhất số 71/2026/VBHN-BCT ngày 5/8/2026 của Bộ Công Thương hợp nhất Nghị định số 32/2024/NĐ-CP ngày 15/3/2024 của Chính phủ về quản lý, phát triển cụm công nghiệp và các nội dung sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 303/2026/NĐ-CP ngày 1/8/2026. Các quy định mới góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về phương hướng phát triển, thành lập, mở rộng cụm công nghiệp, đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, sản xuất kinh doanh, chính sách ưu đãi, hỗ trợ và quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp.

Khuyến khích phát triển cụm công nghiệp theo hướng hiệu quả, bền vững

Theo văn bản hợp nhất, cụm công nghiệp là nơi sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, với quy mô diện tích không vượt quá 75 ha và không dưới 5 ha.

Nghị định khuyến khích phát triển các loại hình cụm công nghiệp như cụm công nghiệp làng nghề, cụm công nghiệp chuyên ngành, cụm công nghiệp hỗ trợ, cụm công nghiệp công nghệ cao và cụm công nghiệp sinh thái. Việc phát triển cụm công nghiệp được gắn với yêu cầu sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường và thúc đẩy sản xuất sạch hơn.

Các nhóm ngành, nghề được khuyến khích đầu tư gồm công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nông nghiệp; cơ khí; công nghiệp hỗ trợ; dệt may, da giày; công nghệ thông tin, viễn thông, điện tử; năng lượng tái tạo; công nghệ số, tự động hóa, thiết bị cao cấp, vật liệu mới và công nghệ sinh học. Các ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cần được bảo tồn, phát triển tại địa phương; công nghiệp môi trường, xử lý, tái chế, tái sử dụng chất thải và một số ngành dịch vụ phục vụ sản xuất cũng được khuyến khích.

Nghị định đồng thời khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, cơ sở sản xuất hộ gia đình, cá nhân trong làng nghề, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp công nghệ số và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo đầu tư trong cụm công nghiệp.

Gắn phát triển cụm công nghiệp với quy hoạch, nhu cầu đầu tư

Việc xây dựng phương hướng phát triển cụm công nghiệp phải căn cứ chiến lược phát triển công nghiệp, định hướng phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch, nhu cầu mặt bằng, điều kiện địa lý, giao thông, khả năng thu hút và di dời các tổ chức, cá nhân vào sản xuất kinh doanh trong cụm công nghiệp, khả năng huy động vốn, yêu cầu bảo vệ môi trường và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả đất đai, tài nguyên.

Việc thành lập cụm công nghiệp phải đáp ứng các điều kiện về danh mục cụm công nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt, quỹ đất phù hợp và có doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức có năng lực đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật làm chủ đầu tư. Đối với mở rộng cụm công nghiệp, tổng diện tích sau mở rộng không vượt quá 75 ha, đồng thời phải đáp ứng các điều kiện về quỹ đất, tỷ lệ lấp đầy và hạ tầng kỹ thuật theo quy định.

Nghị định cũng quy định cụ thể hồ sơ, trình tự thẩm định và quyết định thành lập, mở rộng cụm công nghiệp. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo việc tiếp nhận hồ sơ; Sở Công Thương tổ chức thẩm định và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định. Việc lựa chọn chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật được thực hiện thông qua Hội đồng đánh giá lựa chọn chủ đầu tư, với các tiêu chí về phương án đầu tư, quản lý và bảo vệ môi trường, năng lực, kinh nghiệm và phương án tài chính.

Tăng trách nhiệm chủ đầu tư, tạo điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

Chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp được vận động, tiếp nhận dự án đầu tư theo quy hoạch; huy động vốn đầu tư hạ tầng; xây dựng nhà xưởng, kho bãi, văn phòng để cho thuê hoặc bán và kinh doanh các dịch vụ công cộng, tiện ích theo quy định.

Cùng với đó, chủ đầu tư phải tổ chức quản lý, vận hành dự án; duy tu, bảo dưỡng hệ thống hạ tầng kỹ thuật; cung cấp dịch vụ công cộng, tiện ích; tuân thủ các quy định về đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường, phòng cháy chữa cháy, lao động và các lĩnh vực liên quan. Chủ đầu tư cũng phải thu hút đúng ngành, nghề vào cụm công nghiệp, thực hiện chế độ báo cáo và công bố công khai diện tích đất chưa cho thuê, cho thuê lại.

Đối với tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất kinh doanh, Nghị định quy định quyền sử dụng, gia hạn sử dụng đất theo pháp luật về đất đai; thuê lại đất, nhà xưởng, kho bãi, văn phòng; sử dụng các công trình hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ công cộng; được hỗ trợ, tạo điều kiện trong tuyển dụng, đào tạo lao động và thực hiện thủ tục đầu tư.

Đồng thời, các tổ chức, cá nhân phải sử dụng đất, triển khai dự án và sản xuất kinh doanh đúng quy định; tuân thủ pháp luật về đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường, phòng cháy chữa cháy, lao động, an toàn lao động, vệ sinh công nghiệp và an ninh trật tự; đồng thời tham gia tích cực vào việc thu hút lao động, giải quyết việc làm tại địa phương.

Ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển cụm công nghiệp

Nghị định quy định cụm công nghiệp là địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và dự án đầu tư sản xuất kinh doanh trong cụm công nghiệp được áp dụng các ưu đãi theo pháp luật về đất đai, thuế, tín dụng và các quy định liên quan. Trường hợp pháp luật quy định các mức ưu đãi khác nhau thì áp dụng mức ưu đãi cao nhất.

Địa phương được sử dụng ngân sách để hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp. Nội dung hỗ trợ gồm các công trình giao thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải và thông tin liên lạc. Đối tượng hỗ trợ gồm một số cụm công nghiệp dành diện tích đất đã đầu tư hạ tầng cho doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; cụm công nghiệp tại địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn và các loại hình cụm công nghiệp được khuyến khích phát triển.

Ngân sách trung ương bảo đảm kinh phí cho một số hoạt động phát triển cụm công nghiệp do Bộ Công Thương thực hiện như xây dựng cơ sở dữ liệu, xúc tiến đầu tư, thông tin tuyên truyền, tập huấn, khảo sát, đánh giá, xây dựng chính sách và nghiên cứu, hướng dẫn tiêu chí cụm công nghiệp sinh thái. Ngân sách địa phương bảo đảm kinh phí cho các hoạt động phát triển cụm công nghiệp trên địa bàn, trong đó có xúc tiến đầu tư, khảo sát nhu cầu đầu tư, lập và thẩm định thành lập, mở rộng cụm công nghiệp, lập quy hoạch chi tiết và hỗ trợ thủ tục hành chính.

Phân định trách nhiệm quản lý nhà nước, bảo đảm chuyển tiếp

Nghị định phân định trách nhiệm quản lý nhà nước giữa Chính phủ, Bộ Công Thương, các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cấp xã. Bộ Công Thương là cơ quan quản lý nhà nước về cụm công nghiệp trên phạm vi cả nước, có trách nhiệm xây dựng chính sách, pháp luật, chương trình, kế hoạch; hướng dẫn chế độ báo cáo, cơ sở dữ liệu; thực hiện hợp tác quốc tế, xúc tiến đầu tư và kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật về cụm công nghiệp.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện phương hướng phát triển; quyết định thành lập, mở rộng, điều chỉnh hoặc bãi bỏ quyết định thành lập, mở rộng cụm công nghiệp; ban hành Quy chế quản lý cụm công nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức triển khai dự án; tổ chức giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng và xúc tiến đầu tư; rà soát, xử lý các cụm công nghiệp, dự án chậm tiến độ, không đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường, sử dụng đất không hiệu quả hoặc vi phạm pháp luật.

Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm đề xuất xây dựng phương hướng phát triển, thành lập, mở rộng cụm công nghiệp; hỗ trợ chủ đầu tư; tiếp nhận, giải quyết hoặc đề nghị giải quyết thủ tục đầu tư; hỗ trợ di dời doanh nghiệp, cơ sở sản xuất vào cụm công nghiệp và kiểm tra, xử lý hoặc đề xuất xử lý vi phạm theo thẩm quyền.

Nghị định cũng quy định chuyển tiếp đối với các cụm công nghiệp được hình thành theo quy định trước đây. Một số cụm công nghiệp có diện tích dưới 10 ha, cụm công nghiệp ở huyện miền núi hoặc cụm công nghiệp làng nghề có diện tích dưới 5 ha đã được thành lập, mở rộng trước thời điểm quy định mới có hiệu lực được tiếp tục hoạt động và quản lý theo quy định.

Đối với các cụm công nghiệp đang trong quá trình thẩm định, xem xét thành lập, mở rộng, Nghị định quy định cơ chế tiếp tục thực hiện nhằm bảo đảm quá trình chuyển tiếp. Việc xử lý một số trường hợp thành lập cụm công nghiệp thuộc diện chuyển tiếp phải hoàn thành trước ngày 31/12/2026.

Theo Văn bản hợp nhất số 71/2026/VBHN-BCT, Nghị định số 32/2024/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/5/2024; các nội dung sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 303/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/9/2026. Nghị định số 68/2017/NĐ-CP và Nghị định số 66/2020/NĐ-CP hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định số 303/2026/NĐ-CP có hiệu lực. 

Xem chi tiết quy định tại đây

Đạt Trịnh

Nguồn Tạp chí Công thương: https://tapchicongthuong.vn/bo-cong-thuong-hop-nhat-cac-quy-dinh-ve-quan-ly--thuc-day-phat-trien-cum-cong-nghiep-542549.htm