Bộ KH&CN chuyển sang 'quản trị kiến tạo': Chấp nhận rủi ro, đo bằng đầu ra
Bộ KH&CN đang từng bước chuyển từ mô hình quản lý hành chính sang 'quản trị kiến tạo' theo hướng quản lý dựa trên hiệu quả đầu ra thay vì quy trình.
Sau một năm thực hiện hợp nhất, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đang từng bước chuyển từ mô hình quản lý hành chính sang "quản trị kiến tạo", với trọng tâm là quản lý theo hiệu quả, lấy dữ liệu và kết quả đầu ra làm thước đo, thay vì kiểm soát quy trình như trước đây.
Thông tin được đưa ra tại họp báo thường kỳ tháng 3 của Bộ, ngày 1/4/2026 tại Hà Nội. Trả lời câu hỏi Báo điện tử VTC News về cách triển khai cụ thể mô hình này, đại diện các đơn vị thuộc Bộ cho biết định hướng xuyên suốt là chuyển đổi tư duy quản lý, tạo môi trường thuận lợi để khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST&CĐS) phát triển nhanh hơn, hiệu quả hơn.

Toàn cảnh họp báo thường kỳ tháng 3 của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Quản lý dựa trên hiệu quả thay vì quy trình
Theo Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ, việc chuyển đổi được thực hiện theo hướng quản lý dựa trên hiệu quả thay vì quy trình, đồng thời triển khai trên nền tảng số nhằm bảo đảm tính minh bạch và khả năng giám sát.
Ở góc độ chính sách, Cục Đổi mới sáng tạo cho biết hệ thống pháp luật đã có những điều chỉnh quan trọng để hỗ trợ mô hình quản trị mới. Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo đã quy định khung thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, quy trình, sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới.
Trong khi đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ bổ sung cơ chế Nhà nước mua và phổ biến công nghệ dưới các hình thức miễn phí, ưu đãi hoặc cấp quyền sử dụng có điều kiện.
Các quy định trên đã chuyển đổi tư duy quản lý sang quản trị kiến tạo, thúc đẩy và đồng hành rút ngắn thời gian tiếp cận công nghệ tiên tiến, giảm chi phí đổi mới cho doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy nhanh quá trình ứng dụng, thương mại hóa công nghệ và hình thành các động lực tăng trưởng mới một cách liên tục, bền vững.
Cùng với đó, việc quản lý các chương trình, nhiệm vụ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo cũng được chuyển từ kiểm soát đầu vào sang đánh giá theo mục tiêu và kết quả đầu ra. Các nhiệm vụ được giao theo bài toán cụ thể, gắn với năng suất, tăng trưởng và năng lực cạnh tranh, đồng thời được quản lý thống nhất trên một nền tảng số quốc gia.
Trong lĩnh vực chuyển đổi số, Cục Chuyển đổi số quốc gia nhấn mạnh “Mô hình quản trị kiến tạo” trong lĩnh vực chuyển đổi số được triển khai theo hướng Nhà nước không làm thay, mà tập trung hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn, hạ tầng dùng chung và cơ chế điều phối để dẫn dắt phát triển.
Bộ ưu tiên xây dựng chính sách linh hoạt, tháo gỡ điểm nghẽn về nền tảng số, tiêu chuẩn kỹ thuật và thử nghiệm công nghệ mới; đồng thời tăng cường phân cấp gắn với giám sát, đánh giá theo kết quả đầu ra.
Cách tiếp cận này cũng đòi hỏi thay đổi phương thức điều hành, từ xử lý thủ tục sang quản trị theo dữ liệu và thời gian thực, lấy người dân, doanh nghiệp và cơ quan thực thi làm trung tâm.
Bộ đóng vai trò kiến tạo hệ sinh thái bằng cách thúc đẩy chia sẻ hạ tầng, dữ liệu và nền tảng, hỗ trợ thí điểm các mô hình mới, qua đó giúp công nghệ số được ứng dụng nhanh hơn trong thực tiễn.

Thứ trưởng Khoa học và Cộng nghệ Bùi Hoàng Phương chia sẻ tại buổi họp báo.
Các trụ cột mô hình “quản trị kiến tạo”
Theo Văn phòng Bộ, mô hình “quản trị kiến tạo” được triển khai dựa trên một số trụ cột chính.
Đầu tiên là chuyển từ cơ chế “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, trong đó Nhà nước tập trung đánh giá kết quả thay vì can thiệp sâu vào quá trình thực hiện. Mô hình này bảo đảm quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình cao nhất cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân.
Thứ hai là cơ chế chấp nhận và chia sẻ rủi ro trong nghiên cứu và đầu tư mạo hiểm. Theo đó, tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ sử dụng ngân sách Nhà nước không phải hoàn trả kinh phí nếu đã tuân thủ đầy đủ quy trình nhưng kết quả không đạt mục tiêu đề ra.
Cơ chế này giúp xóa bỏ tâm lý e ngại thất bại, khuyến khích các ý tưởng đột phá và mạo hiểm trong sáng tạo công nghệ.
Thứ ba là đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị thông qua việc xây dựng và vận hành nền tảng số quản lý khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.
Hệ thống này giúp theo dõi tiến độ, đánh giá kết quả và hiệu quả triển khai hoạt động trên phạm vi toàn quốc một cách minh bạch, dữ liệu từ nền tảng này là căn cứ để điều chỉnh kế hoạch, phương án phân bổ ngân sách Nhà nước cho các giai đoạn tiếp theo.
Thứ tư là cơ chế tài chính và xử lý tài sản linh hoạt, kiến tạo. Theo đó, mô hình mới hướng tới đơn giản hóa thủ tục và tăng tính linh hoạt. Nhà nước tự động giao quyền quản lý, sử dụng và quyền sở hữu kết quả nghiên cứu/tài sản trang bị cho tổ chức chủ trì nhiệm vụ mà không cần thực hiện các thủ tục giao quyền hay bồi hoàn chi phí phức tạp.
Áp dụng cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, đồng thời quy định phân chia lợi nhuận từ thương mại hóa kết quả nghiên cứu, trong đó tác giả và cá nhân tham gia trực tiếp được hưởng tối thiểu 30% lợi nhuận hoặc giá trị tương ứng.
Một trụ cột quan trọng khác là lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo. Nhà nước chuyển vai trò từ quản lý sang dẫn dắt và kiến tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp, thông qua các chính sách ưu đãi thuế, hỗ trợ tài chính, tài trợ nhiệm vụ tiếp nhận công nghệ từ nước ngoài và tạo lập thị trường cho sản phẩm khoa học công nghệ.
Đồng thời, xây dựng hạ tầng dùng chung như phòng thí nghiệm, cơ sở thực nghiệm được xây dựng để doanh nghiệp cùng khai thác.
Cơ chế đặt hàng cũng được đẩy mạnh, trong đó Nhà nước đóng vai trò Người mua hàng đầu tiên (First buyer) thông qua đặt hàng các nghiên cứu, sản phẩm, công nghệ chiến lược để giải các bài toán quốc gia.
Bên cạnh đó, Bộ triển khai cơ chế Tổng công trình sư cho các chương trình, nhiệm vụ đặc biệt với mức lương thỏa thuận và các ưu đãi đặc thù về nhà ở, phương tiện đi lại.
Đồng thời, Nhà nước áp dụng chính sách đãi ngộ đặc biệt đối với nhân tài dựa trên tiêu chí và minh chứng cụ thể mà không cần thủ tục công nhận danh hiệu chính thức.
Cuối cùng, Bộ định hướng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Các địa phương được hướng dẫn xây dựng trung tâm đổi mới sáng tạo, triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), xác định các công nghệ và sản phẩm gắn với bài toán lớn, có tác động trực tiếp đến GRDP, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ viễn thông.












