Bộ Y tế triển khai kế hoạch quốc gia phòng, chống ung thư vú và ung thư cổ tử cung
Kế hoạch hành động quốc gia về phòng chống ung thư vú (UTV) và ung thư cổ tử cung (UTCTC) giai đoạn 2026-2035 đặt mục tiêu tổng quát là nâng cao hiệu quả dự phòng, chẩn đoán, điều trị và quản lý sau điều trị, hướng tới loại trừ UTCTC và giảm tỷ lệ tử vong do UTV.
60% người bệnh ung thư vú phát hiện ở giai đoạn muộn
Ngày 30/7 tại Hà Nội, Cục Bà mẹ và Trẻ em Bộ Y tế đã chủ trì tổ chức Hội thảo triển khai công tác phòng chống ung thư vú và ung thư cổ tử cung khu vực phía Bắc. Hội thảo có sự tham dự của đại diện các Vụ, Cục thuộc Bộ Y tế, các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành về Phụ sản và Ung bướu, đại diện Sở Y tế, bệnh viện, trung tâm kiểm soát bệnh tật của 19 tỉnh, thành phố phía Bắc cùng các đối tác đồng hành như UNFPA, Roche Việt nam, Roche Pharma Việt nam.

Toàn cảnh Hội thảo triển khai công tác phòng chống ung thư vú và ung thư cổ tử cung khu vực phía Bắc.
Phát biểu tại Hội thảo, ông Đinh Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em cho biết, ung thư vú (UTV) hiện là bệnh ung thư phổ biến nhất ở nữ giới Việt Nam với 24.563 trường hợp mắc mới và khiến khoảng 10.000 phụ nữ tử vong hàng năm. Đáng chú ý, trên 60% người bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn (III-IV), dẫn đến tỷ lệ sống thêm sau 5 năm chỉ đạt khoảng 74%, thấp hơn so với nhiều quốc gia phát triển.
Đối với ung thư cổ tử cung (UTCTC), năm 2022 Việt Nam ghi nhận 4.612 ca mắc mới và 2.571 ca tử vong. Mặc dù đây là căn bệnh có thể dự phòng hiệu quả bằng vắc-xin và tầm soát, nhưng tỷ lệ sàng lọc định kỳ tại Việt Nam mới chỉ đạt mức 28,2% và có sự chênh lệch lớn về tiếp cận giữa các vùng miền, dân tộc. Trước thực trạng đó, việc ban hành một chiến lược quốc gia mang tính dài hạn là nhiệm vụ cấp thiết nhằm cụ thể hóa các mục tiêu bảo vệ sức khỏe nhân dân.

Ông Đinh Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế phát biểu tại hội thảo sáng 30/7.
Theo ông Matt Jackson, Trưởng đại diện UNFPA tại Việt Nam, việc Bộ Y tế ban hành Kế hoạch hành động quốc gia phòng, chống ung thư vú và ung thư cổ tử cung giai đoạn 2026-2035 là dấu mốc quan trọng, thể hiện cam kết chính trị mạnh mẽ và tầm nhìn chiến lược của Việt Nam trong bảo vệ sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống cho phụ nữ và trẻ em gái.
UNFPA nhấn mạnh, mặc dù ung thư vú và ung thư cổ tử cung đều là gánh nặng y tế lớn trên toàn cầu, nhưng ung thư cổ tử cung là căn bệnh có thể phòng ngừa và tiến tới loại bỏ thông qua tiêm vắc xin HPV cho trẻ em gái, thanh thiếu niên, kết hợp sàng lọc định kỳ và điều trị kịp thời các tổn thương tiền ung thư.

Ông Matt Jackson, Trưởng đại diện tổ chức UNFPA tại Việt Nam phát biểu tại hội thảo.
Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung hiện là loại ung thư phổ biến thứ sáu ở phụ nữ với hơn 4.100 ca mắc mới và trên 2.400 ca tử vong mỗi năm. Theo UNFPA, nếu hệ thống ghi nhận dữ liệu đầy đủ hơn, số ca mắc và tử vong thực tế có thể còn cao hơn. Đáng chú ý, số phụ nữ tử vong do ung thư cổ tử cung hiện cao gấp khoảng ba lần số ca tử vong mẹ do các biến chứng thai sản.
Tuy nhiên, độ bao phủ các dịch vụ phòng, chống ung thư cổ tử cung vẫn còn thấp. Tỷ lệ phụ nữ được sàng lọc mới đạt khoảng 28%, trong khi tỷ lệ tiêm vắc xin HPV ở nhóm nữ từ 15-24 tuổi chỉ khoảng 12%.
UNFPA cảnh báo, nếu không mở rộng các biện pháp dự phòng ngay từ bây giờ, đến năm 2070 có thể sẽ có hơn 218.000 phụ nữ Việt Nam tử vong do ung thư cổ tử cung; trong vòng một thế kỷ tới, con số này có thể lên tới gần 450.000 người.
Theo UNFPA, nếu Việt Nam triển khai thành công chiến lược toàn cầu của Tổ chức Y tế Thế giới và đạt mục tiêu 90-70-90 vào năm 2030, gồm 90% trẻ em gái được tiêm vắc xin HPV, 70% phụ nữ được sàng lọc bằng xét nghiệm có độ chính xác cao và 90% phụ nữ có tổn thương tiền ung thư hoặc ung thư được điều trị, thì hoàn toàn có thể loại bỏ ung thư cổ tử cung như một vấn đề sức khỏe cộng đồng vào năm 2050.
6 nhóm giải pháp đồng bộ phòng chống UTV và UTCTC
Kế hoạch hành động quốc gia về phòng chống UTV và UTCTC giai đoạn 2026-2035 đặt mục tiêu tổng quát là nâng cao hiệu quả dự phòng, chẩn đoán, điều trị và quản lý sau điều trị, hướng tới loại trừ UTCTC và giảm tỷ lệ tử vong do UTV.
Về Ung thư vú: Phấn đấu giảm tỷ lệ tử vong trung bình 2,5% mỗi năm. Đến năm 2035, đạt 70% phụ nữ trong độ tuổi 40-70 được sàng lọc định kỳ; nâng tỷ lệ phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm (I-II) lên mức 60%. Kế hoạch cũng chú trọng nâng cao chất lượng điều trị hiệu quả thông qua việc đảm bảo ít nhất 80% người bệnh được tiếp cận và hoàn thành phác đồ điều trị đa mô thức chuẩn hóa, đồng thời thiết lập hệ thống quản lý, theo dõi tái khám định kỳ sau điều trị nhằm hạn chế tối đa nguy cơ tái phát và cải thiện chất lượng sống dài lâu cho bệnh nhân.
Về Ung thư cổ tử cung: Quyết tâm thực hiện mục tiêu "90-70-90" vào năm 2035 theo khuyến cáo của của Tổ chức Y tế Thế giới để tiến tới loại trừ bệnh. Chỉ tiêu cụ thể: 90% trẻ em gái 9-15 tuổi được tiêm đủ liều vắc-xin HPV tại các địa bàn triển khai theo Kế hoạch thực hiện Lộ trình tăng số lượng vắc xin trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng giai đoạn 2021 - 2030 của Bộ Y tế; 70% phụ nữ trong độ tuổi 30-49 được sàng lọc bằng xét nghiệm hiệu năng cao; và 90% phụ nữ có tổn thương cổ tử cung được xử trí đúng phác đồ.
Để thực hiện thành công Kế hoạch hành động quốc gia về phòng chống UTV và UTCTC giai đoạn 2026-2035, Bộ Y tế xác định 6 nhóm giải pháp đồng bộ:
Chính sách và Tài chính: Thực hiện Lộ trình tăng số lượng vắc-xin trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng; vận động đưa sàng lọc UTV, UTCTC vào danh mục Bảo hiểm y tế chi trả.
Truyền thông, vận động, giáo dục sức khỏe, thay đổi hành vi của người dân nhằm: "Chủ động dự phòng, sàng lọc sớm để đẩy lùi ung thư vú và ung thư cổ tử cung".
Nhân lực và Nâng cao năng lực: Đào tạo nhân viên y tế các cấp theo các quy trình đã được chuẩn hóa, chuyển giao kỹ thuật về sàng lọc, chẩn đoán, điều trị và theo dõi người bệnh UTV và UTCTC theo hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế; phát triển các hình thức đào tạo, tư vấn, khám, chữa bệnh từ xa.
Cơ sở vật chất và Trang thiết bị: Đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng và thiết bị y tế để tăng cường năng lực chẩn đoán, điều trị UTV, UTCTC. Đảm bảo cung ứng vật tư, thuốc, sinh phẩm, và duy trì hệ thống bảo trì thiết bị định kỳ phục vụ cho dự phòng, sàng lọc và điều trị UTV, UTCTC.
Chuyên môn kỹ thuật và Công nghệ: chuẩn hóa quy trình chuyên môn kỹ thuật, ứng dụng số hóa, trí tuệ nhân tạo (AI) để nâng cao chất lượng sàng lọc, chẩn đoán và điều trị bệnh.
Thông tin và Giám sát: Xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia tích hợp, kết nối với hồ sơ sức khỏe điện tử để quản lý trọn đời lộ trình sức khỏe của phụ nữ.
Hội thảo đã tập trung thảo luận sâu về lộ trình kỹ thuật và kinh nghiệm thực tiễn thông qua các bài trình bày từ các đơn vị đầu ngành: Kế hoạch hành động quốc gia về phòng chống ung thư vú và ung thư cổ tử cung giai đoạn 2026-2035; Hướng dẫn Dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung; Hướng dẫn Sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú; Mô hình kết hợp công - tư trong Dự án thí điểm "Sàng lọc Ung thư cổ tử cung" tại Hải Phòng và Dự án thí điểm "Can thiệp toàn diện ung thư vú" tại Đà Nẵng và Nghệ An
Ngoài ra, hội thảo dành thời gian tham luận và thảo luận về tiến độ triển khai kế hoạch hành động quốc gia, Lộ trình tăng số lượng vắc-xin trong đó có vắc xin HPV trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng và việc vận động chính sách nhằm mở rộng danh mục chi trả bảo hiểm y tế cho sàng lọc, phát hiện sớm ung thư vú, ung thư cổ tử cung.
Một số hình ảnh tại hội thảo:

Các đại biểu tham dự hội thảo chụp ảnh lưu niệm.

Ông Pengzhi He, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Roche Việt Nam - đối tác đồng hành tổ chức Hội thảo.

Đại diện Trường Đại học Y Dược Huế trình bày tham luận về phổ biến và triển khai Kế hoạch hành động quốc gia về phòng chống ung thư vú và ung thư cổ tử cung giai đoạn 2026-2035.












