Bốn nguyên tắc trong xử lý vi phạm liên quan kinh tế và ứng dụng khoa học, công nghệ
Nghị quyết quy định 4 nguyên tắc cốt lõi trong xử lý các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số,
Sáng 3/8, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Đại tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình tóm tắt Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Bộ trưởng Lương Tam Quang nhấn mạnh, việc ban hành nghị quyết nhằm thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng; đồng thời tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo dám nghĩ, dám làm...
Theo Bộ trưởng Lương Tam Quang, việc xây dựng hồ sơ dự án nghị quyết nhằm thể chế hóa các chủ trương của Đảng, gồm: Kết luận của Hội nghị Trung ương về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; Kết luận số 14 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung; Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 79 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước. Đồng thời, nghị quyết nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn.
Về mục đích, quan điểm xây dựng nghị quyết, Bộ trưởng Lương Tam Quang cho biết, việc ban hành nghị quyết nhằm thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng; đồng thời tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; thể hiện tính nhân văn, khoan hồng của Đảng và Nhà nước; lấy hiệu quả về chính trị, kinh tế, xã hội làm căn cứ để xử lý phù hợp.
Trong quá trình xây dựng dự thảo nghị quyết, Cơ quan soạn thảo đã gửi xin ý kiến của UBND các tỉnh, thành phố, các bộ, ngành có liên quan và các cơ quan của Đảng. Trên cơ sở các ý kiến tham gia, cơ quan soạn thảo đã nghiên cứu, tiếp thu, hoàn thiện hồ sơ dự án nghị quyết và gửi Bộ Tư pháp thẩm định.
Về bố cục và nội dung cơ bản của dự thảo nghị quyết, Bộ trưởng Lương Tam Quang cho biết, dự thảo nghị quyết gồm 3 chương, 13 điều với các nội dung cụ thể như sau:
Chương I gồm 4 điều, từ Điều 1 đến Điều 4, quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc thực hiện và giải thích từ ngữ. Theo đó, nghị quyết quy định cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật nêu trên.
“Nghị quyết quy định các nguyên tắc thực hiện, trong đó có các nguyên tắc cốt lõi sau: Thứ nhất, khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Thứ hai, khoan hồng, giảm nhẹ đối với người có hành vi vi phạm nhưng vì lợi ích chung; lấy hiệu quả về chính trị, kinh tế, xã hội để xem xét, xử lý phù hợp. Thứ ba, ưu tiên áp dụng các biện pháp kinh tế, dân sự, hành chính; xử lý hình sự là biện pháp cuối cùng. Thứ tư, xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng nghị quyết này để tham nhũng, trục lợi hoặc thực hiện các hành vi tiêu cực”, Bộ trưởng Lương Tam Quang nhấn mạnh. Đồng thời, cho biết thêm, dự thảo nghị quyết giải thích 9 khái niệm để thống nhất cách hiểu, gồm: Không tham nhũng; Vì lợi ích chung; Hậu quả thiệt hại; Khắc phục hậu quả; Mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội; Không có khiếu nại, tố cáo hoặc đã giải quyết dứt điểm khiếu nại, tố cáo; Vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước; Vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế tư nhân; Vi phạm pháp luật trong hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Chương II gồm 7 điều, từ Điều 5 đến Điều 11, quy định về xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Theo đó, chương này quy định về chính sách xử lý hình sự, gồm: Không khởi tố trách nhiệm hình sự; loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người gặp rủi ro, thiệt hại do ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tạm hoãn trách nhiệm hình sự; miễn trách nhiệm hình sự.


Các đại biểu dự phiên họp.
“Đối với từng chính sách hình sự, dự thảo nghị quyết quy định các điều kiện cụ thể để áp dụng. Đồng thời, để thực hiện các chính sách này, Điều 9 và Điều 10 của dự thảo nghị quyết quy định trình tự, thủ tục tố tụng hình sự và trình tự, thủ tục trong thi hành án hình sự. Bên cạnh đó, để bảo đảm tính tương ứng trong việc xử lý, Điều 11 của dự thảo nghị quyết quy định việc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức và người thuộc lực lượng vũ trang tương ứng với các điều kiện áp dụng các chính sách xử lý hình sự quy định từ Điều 5 đến Điều 8”, Bộ trưởng Lương Tam Quang nêu.
Chương III (có 2 điều, Điều 12 và Điều 13), quy định về hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện. Nghị quyết này dự kiến được thực hiện trong 3 năm. Trường hợp sau thời điểm hết hiệu lực nhưng thời gian tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để khắc phục hậu quả vẫn còn thì tiếp tục được thực hiện cho đến khi hết thời hạn này (không quá 2 năm). Điều 13 nghị quyết quy định trách nhiệm tổ chức thực hiện của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan có liên quan trong việc thực hiện nghị quyết.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi nhấn mạnh, nghị quyết cơ bản đầy đủ các tài liệu theo quy định để trình Quốc hội cho ý kiến.
Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội Phan Văn Mãi cho biết, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản nhất trí với sự cần thiết ban hành nghị quyết nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương, quan điểm của Đảng; tạo cơ sở pháp lý để xử lý các vấn đề cấp thiết khi một số luật chưa được sửa đổi, bổ sung; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong xử lý các vụ việc, vụ án; khuyến khích đổi mới sáng tạo, bảo vệ người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, không vụ lợi, không tham nhũng; qua đó nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục bám sát, thể chế hóa đầy đủ Nghị quyết số 04-NQ/TW Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng; lượng hóa tiêu chí phân loại vi phạm, điều kiện áp dụng chính sách khoan hồng; thiết lập cơ chế kiểm soát, giám sát chặt chẽ, ngăn ngừa việc lợi dụng, bảo đảm nguyên tắc không có vùng cấm, không có ngoại lệ.
Đối chiếu với quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ dự án nghị quyết cơ bản đầy đủ các tài liệu theo quy định để trình Quốc hội cho ý kiến.
Các cơ chế, chính sách tại dự thảo nghị quyết cơ bản phù hợp với Hiến pháp, thuộc thẩm quyền ban hành của Quốc hội và tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan. Tuy nhiên, do dự thảo có nhiều quy định đặc thù, khác so với pháp luật hiện hành, đề nghị tiếp tục rà soát để xác định cụ thể các nội dung được áp dụng.











