Bốn nhóm nhiệm vụ trọng tâm nhằm đưa Nghị quyết số 23-NQ/TW vào cuộc sống
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng đã trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN nhằm làm rõ những điểm mới trong tư duy, định hướng công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới; đồng thời nhấn mạnh 4 nhóm nhiệm vụ trọng tâm nhằm nhanh chóng đưa Nghị quyết số 23-NQ/TW vào cuộc sống.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng. Ảnh tư liệu: An Đăng/TTXVN
Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 02/8/2026 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Nhân dịp này, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng đã trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN nhằm làm rõ những điểm mới trong tư duy, định hướng công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới; đồng thời nhấn mạnh 4 nhóm nhiệm vụ trọng tâm nhằm nhanh chóng đưa Nghị quyết số 23-NQ/TW vào cuộc sống.
Nghị quyết số 23-NQ/TW được ban hành sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW. Xin Thứ trưởng cho biết ý nghĩa và những điểm mới nổi bật về tư duy, định hướng trong công tác người Việt Nam ở nước ngoài được nêu trong Nghị quyết?
Nghị quyết số 23-NQ/TW có ý nghĩa rất quan trọng cả về chính trị, đối ngoại và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Trước hết, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài sau hơn 20 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW và các văn bản chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, do đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành ngày 02/8/2026 vừa qua, thể hiện sự quan tâm sâu sắc, thường xuyên và nhất quán của Đảng và Nhà nước đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Điều đó khẳng định công tác người Việt Nam ở nước ngoài luôn có vị trí quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời là một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển đất nước và nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia trong giai đoạn mới.
Thứ hai, Nghị quyết tiếp tục khẳng định nhất quán chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước. Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đồng thời Nghị quyết nhấn mạnh tinh thần hòa hợp dân tộc, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai, tôn trọng những khác biệt không trái với lợi ích quốc gia - dân tộc, qua đó củng cố hơn nữa sự gắn bó giữa đồng bào ở trong nước và ngoài nước, tăng cường đồng thuận và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ ba, Nghị quyết có ý nghĩa quan trọng trong việc cập nhật và hoàn thiện chủ trương của Đảng đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài phù hợp với bối cảnh phát triển mới của đất nước và sự trưởng thành của cộng đồng. Nghị quyết phản ánh đúng vị thế, vai trò và khả năng đóng góp ngày càng lớn của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ tư, Nghị quyết tạo cơ sở chính trị quan trọng để các cấp, ngành tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, xây dựng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đoàn kết, phát triển, có địa vị pháp lý vững chắc, hội nhập thành công tại nước sở tại, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tiếng Việt. Đồng thời tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài phát huy vai trò cầu nối hữu nghị, quảng bá hình ảnh đất nước và tham gia ngày càng sâu rộng vào các lĩnh vực phát triển của đất nước, đặc biệt là khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, đầu tư, kinh doanh và hội nhập quốc tế.
Trong nhiều nội dung mới của Nghị quyết, tôi xin nhấn mạnh hai điểm mới nổi bật về tư duy có ý nghĩa chiến lược.
Thứ nhất, nâng tầm nhận thức về vị trí, vai trò của người Việt Nam ở nước ngoài. Lần đầu tiên, Nghị quyết xác định người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam mà còn là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia. Đây là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng, khẳng định sức mạnh quốc gia không chỉ được tạo nên từ nguồn lực trong nước mà còn từ trí tuệ, tiềm lực, uy tín và mạng lưới kết nối của hơn 6,5 triệu người Việt Nam trên toàn thế giới. Đồng bào không chỉ là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới mà còn là lực lượng đồng hành, tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ hai, đổi mới tư duy về công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Nghị quyết số 23-NQ/TW thể hiện rõ yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức triển khai công tác người Việt Nam ở nước ngoài theo hướng đồng hành, kiến tạo cơ chế và phát huy vai trò của đồng bào ở nước ngoài. Nhà nước không chỉ thực hiện vai trò vận động, tập hợp và hỗ trợ cộng đồng mà còn chủ động tạo lập môi trường, cơ chế và các điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia sâu rộng hơn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trên tinh thần đó, công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong thời gian tới cần được triển khai theo tư duy lấy cộng đồng làm trung tâm, lấy kết nối và phát huy nguồn lực làm trọng tâm. Nghị quyết đặt công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tổng thể chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc và gắn kết chặt chẽ với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, văn hóa, đối ngoại và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Một định hướng quan trọng khác là tiếp tục khẳng định công tác người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các ban, bộ, ngành, địa phương và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Qua đó, tạo môi trường thuận lợi để cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vừa gắn bó với quê hương, đất nước, vừa phát huy mạnh mẽ vai trò là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng của quốc gia, đồng hành cùng đất nước trong quá trình phát triển nhanh và bền vững, góp phần nâng cao vị thế và sức mạnh tổng hợp quốc gia.
Nghị quyết xác định người Việt Nam ở nước ngoài là “một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng” của đất nước; yêu cầu “nâng tầm tư duy từ vận động, tập hợp, chăm lo lên thành đồng hành, kiến tạo cơ chế, huy động nguồn lực”. Theo Thứ trưởng, quan điểm này sẽ tạo ra những thay đổi như thế nào trong việc xây dựng và triển khai chính sách đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong thời gian tới?
Điểm mới quan trọng nhất là Nghị quyết đã xác định rõ sự đổi mới tư duy và phương thức triển khai công tác người Việt Nam ở nước ngoài, từ vận động, tập hợp, chăm lo sang đồng hành, kiến tạo cơ chế và phát huy nguồn lực. Đây không chỉ là sự thay đổi về cách làm mà còn là sự nâng tầm nhận thức về vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Trước hết, đồng hành có nghĩa là Đảng và Nhà nước tiếp tục thực hiện đầy đủ trách nhiệm chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài; phối hợp bảo đảm an ninh, an toàn cho công dân; hỗ trợ cộng đồng ổn định cuộc sống, hội nhập và phát triển tại nước sở tại; giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn bó với quê hương, đất nước. Nếu trước đây trọng tâm chủ yếu là chăm lo, hỗ trợ, thì nay sự đồng hành cần được thực hiện xuyên suốt trong quá trình phát triển của cộng đồng, coi sự phát triển của cộng đồng cũng là một phần của sự phát triển đất nước.
Thứ hai, kiến tạo cơ chế là yêu cầu mới rất quan trọng của Nghị quyết. Thay vì chỉ dừng lại ở việc vận động, tập hợp, chăm lo, Nhà nước cần chủ động hoàn thiện thể chế, chính sách và môi trường thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài có điều kiện tham gia vào quá trình phát triển đất nước. Điều đó bao gồm việc hoàn thiện các cơ chế thu hút, trọng dụng trí thức, chuyên gia, doanh nhân; tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh, đổi mới sáng tạo; mở rộng các kênh để kiều bào tham gia nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, tư vấn chính sách và các chương trình phát triển quốc gia.
Thứ ba, huy động nguồn lực không chỉ được hiểu là huy động nguồn lực tài chính mà rộng hơn là phát huy toàn diện nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, bao gồm tri thức, công nghệ, kinh nghiệm quản trị, mạng lưới quan hệ quốc tế, uy tín và vị thế của cộng đồng tại nước sở tại. Việc Nghị quyết xác định người Việt Nam ở nước ngoài là “một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng” đòi hỏi các bộ, ngành, địa phương phải chủ động xây dựng các chương trình, dự án và cơ chế hợp tác cụ thể để nguồn lực đó được kết nối và phát huy hiệu quả hơn cho quá trình hội nhập, xây dựng và phát triển đất nước.
Có thể nói, điểm mới của Nghị quyết là nâng tầm tư duy từ chăm lo sang đồng hành, từ vận động sang kiến tạo cơ chế và phát huy nguồn lực. Theo đó, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong thời gian tới sẽ không chỉ hướng tới hỗ trợ và gắn kết cộng đồng mà còn tập trung tạo lập môi trường và cơ chế thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia sâu hơn vào quá trình hội nhập, xây dựng và phát triển đất nước; đồng thời phát huy hiệu quả vai trò của cộng đồng với tư cách là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng của quốc gia.
Nghị quyết đề cao tinh thần hòa hợp dân tộc, xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai; đồng thời khẳng định Đảng, Nhà nước luôn lắng nghe những ý kiến đóng góp xây dựng vì lợi ích quốc gia - dân tộc. Theo Thứ trưởng, thông điệp này có ý nghĩa như thế nào trong việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc?
Trước hết, thông điệp này tiếp tục khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là nguồn lực quan trọng của dân tộc Việt Nam. Đây là sự kế thừa tinh thần của Nghị quyết số 36-NQ/TW, đồng thời được phát triển phù hợp với bối cảnh mới và yêu cầu phát triển mới của đất nước.
Việc Nghị quyết tiếp tục nhấn mạnh tinh thần hòa hợp dân tộc có ý nghĩa rất quan trọng trong việc củng cố sự đồng thuận xã hội, tăng cường sự gắn bó giữa đồng bào trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài. Hòa hợp không phải là xóa bỏ những khác biệt về hoàn cảnh, trải nghiệm hay quan điểm, mà là tôn trọng những khác biệt không trái với lợi ích quốc gia - dân tộc, cùng hướng tới mục tiêu chung là xây dựng đất nước Việt Nam phát triển, hùng cường và thịnh vượng.
Theo tôi, một điểm rất đáng chú ý của Nghị quyết lần này là mở rộng hơn không gian đoàn kết, tập hợp và phát huy nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc và khát vọng phát triển đất nước. Khi mục tiêu chung được đặt lên hàng đầu, chúng ta sẽ có điều kiện quy tụ được nhiều hơn tình cảm, trí tuệ, kinh nghiệm và nguồn lực của người Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bên cạnh đó, việc Nghị quyết khẳng định tinh thần lắng nghe, đối thoại và trân trọng những ý kiến đóng góp xây dựng vì lợi ích quốc gia - dân tộc thể hiện sự cởi mở, cầu thị và trách nhiệm của Đảng, Nhà nước đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Điều đó gửi đi một thông điệp rõ ràng rằng mọi người Việt Nam, dù đang sinh sống ở đâu, đều có thể đóng góp cho đất nước bằng những cách thức khác nhau. Và những ý kiến, sáng kiến, hiến kế xuất phát từ tinh thần trách nhiệm đối với quê hương đều được trân trọng và tạo điều kiện để phát huy.
Tôi tin rằng khi người Việt Nam ở trong nước và ngoài nước cùng chia sẻ khát vọng phát triển đất nước, cùng hướng tới lợi ích quốc gia - dân tộc và cùng cảm nhận mình là một phần của tương lai Việt Nam, thì khối đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ ngày càng được củng cố vững chắc, trở thành nguồn sức mạnh to lớn để đất nước phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới.
Để Nghị quyết số 23-NQ/TW nhanh chóng đi vào cuộc sống, theo Thứ trưởng, những nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên mà Bộ Ngoại giao và Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài sẽ tập trung triển khai trong thời gian tới là gì?
Điều quan trọng nhất sau khi Nghị quyết số 23-NQ/TW được ban hành là phải nhanh chóng chuyển từ nhận thức sang hành động, từ chủ trương thành các chương trình, kế hoạch và kết quả cụ thể. Đây không chỉ là nhiệm vụ của riêng Bộ Ngoại giao hay Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị.
Đối với Bộ Ngoại giao và Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, thời gian tới sẽ tập trung vào bốn nhóm nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và quán triệt sâu rộng Nghị quyết. Mục tiêu là tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong các cấp, ngành, địa phương, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cũng như trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài về những quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ mà Nghị quyết đã đề ra. Điều quan trọng là mỗi cơ quan, đơn vị phải xác định rõ trách nhiệm của mình và cụ thể hóa Nghị quyết thành những nhiệm vụ, chương trình hành động thiết thực.
Thứ hai, khẩn trương thể chế hóa và cụ thể hóa Nghị quyết thành các chương trình, kế hoạch và cơ chế thực hiện. Bộ Ngoại giao đang chủ trì tham mưu xây dựng Chương trình hành động của Chính phủ và kế hoạch triển khai của Bộ Ngoại giao; đồng thời phối hợp với các bộ, ngành, địa phương rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo môi trường thuận lợi hơn để người Việt Nam ở nước ngoài gắn bó, cống hiến và tham gia vào quá trình phát triển đất nước.
Thứ ba, xây dựng các cơ chế và hệ sinh thái kết nối nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài. Trọng tâm là hình thành cơ sở dữ liệu, các mạng lưới chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và thế hệ trẻ người Việt Nam trên toàn cầu; thiết lập các nền tảng để khớp nối cung cầu, tăng cường kết nối các mạng lưới này với nhu cầu phát triển của các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học trong nước, qua đó chuyển hóa tiềm năng thành các chương trình hợp tác, dự án đầu tư, hoạt động chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Thứ tư, đổi mới mạnh mẽ phương thức triển khai công tác người Việt Nam ở nước ngoài theo tinh thần đồng hành, kiến tạo và phát huy nguồn lực. Các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cần phát huy vai trò là đầu mối kết nối nguồn lực Việt Nam tại địa bàn; chủ động phát hiện, tập hợp và kết nối các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân, trí thức kiều bào với các nhu cầu phát triển trong nước. Tinh thần xuyên suốt là chuyển từ tư duy tổ chức hoạt động sang kiến tạo cơ chế kết nối lâu dài; từ vận động, tập hợp sang đồng hành, hỗ trợ và phát huy nguồn lực
Tôi tin rằng, với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương và sự đồng hành của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, Nghị quyết số 23-NQ/TW sẽ sớm đi vào cuộc sống, tạo chuyển biến thực chất trong việc phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới.
Trân trọng cảm ơn Thứ trưởng!
