Việt Nam chính thức có thêm 2 tỉnh lên thành phố

Chiều nay, 100% đại biểu Quốc hội có mặt đã biểu quyết thông qua 2 nghị quyết về việc thành lập thành phố Quảng Ninh và thành phố Bắc Ninh.

Cụ thể, Quốc hội quyết nghị thành lập thành phố Quảng Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh Quảng Ninh.

Thành phố (TP) Quảng Ninh giáp TP Hải Phòng, TP Bắc Ninh, tỉnh Lạng Sơn, Trung Quốc và Biển Đông. Thành phố có diện tích 6.231km2, dân số 1,52 triệu người, gồm 30 phường, 22 xã và 2 đặc khu.

Các cơ quan, tổ chức, đơn vị có tên gọi gắn với địa danh tỉnh Quảng Ninh được đổi tên để hoạt động với tên gọi TP Quảng Ninh kể từ ngày nghị quyết có hiệu lực thi hành (1/9).

Một góc TP Quảng Ninh. Ảnh: Hoàng Hà

Một góc TP Quảng Ninh. Ảnh: Hoàng Hà

Đồng thời, Quốc hội quyết nghị thành lập thành phố Bắc Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh Bắc Ninh.

TP Bắc Ninh giáp TP Hà Nội, TP Hải Phòng, TP Quảng Ninh và các tỉnh Hưng Yên, Lạng Sơn, Thái Nguyên. Thành phố có diện tích 4.713km2, dân số 3,99 triệu người, gồm 45 phường và 54 xã. 

Các cơ quan, tổ chức, đơn vị có tên gọi gắn với địa danh tỉnh Bắc Ninh được đổi tên để hoạt động với tên gọi TP Bắc Ninh kể từ ngày nghị quyết có hiệu lực thi hành (20/9).

TP Bắc Ninh nhìn từ trên cao. Ảnh: Việt Hùng

TP Bắc Ninh nhìn từ trên cao. Ảnh: Việt Hùng

Các văn bản pháp luật được ban hành trước ngày nghị quyết này có hiệu lực thi hành mà vẫn được tiếp tục thực hiện sau ngày nghị quyết này có hiệu lực thi hành nếu có cụm từ "tỉnh Quảng Ninh", "tỉnh Bắc Ninh" thì được chuyển thành "thành phố Quảng Ninh", "thành phố Bắc Ninh".

Ngoài các chế độ, chính sách đối với thành phố trực thuộc Trung ương, các cơ chế, chế độ, chính sách đặc thù đối với tỉnh Quảng Ninh và tỉnh Bắc Ninh trước đây vẫn tiếp tục được thực hiện trên địa bàn TP Quảng Ninh, TP Bắc Ninh cho đến hết giai đoạn áp dụng hoặc đến khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Trong báo cáo tiếp thu, giải trình, chỉnh lý, Chính phủ nêu rõ sẽ chỉ đạo 2 địa phương tập trung thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp để đạt được các mục tiêu đã đề ra.

Đặc biệt, Chính phủ nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực tăng trưởng chủ yếu, phát triển công nghiệp hiện đại, công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, là cực tăng trưởng quan trọng của vùng và quốc gia.

Các bộ, cơ quan có liên quan tiếp tục nghiên cứu, đề xuất cấp có thẩm quyền đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương.

Về cơ chế, chính sách đặc thù áp dụng cho 2 thành phố, Chính phủ đã đề xuất một số cơ chế, chính sách đặc thù trong Luật Phát triển đô thị sẽ được áp dụng cho các thành phố, trong đó có Quảng Ninh, Bắc Ninh, như: đầu tư và thu hút nhà đầu tư chiến lược; tài chính - ngân sách; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đất đai, giải phóng mặt bằng và phát triển quỹ đất...

Chính phủ sẽ chỉ đạo 2 thành phố tiếp tục nghiên cứu, xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù phát triển riêng để trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Quảng Ninh và Bắc Ninh là 2 thành phố tiếp theo sau 7 thành phố: Hà Nội, TPHCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, Đồng Nai.

Hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia

Cũng trong chiều nay, với 477/478 đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035.

Quốc hội quyết nghị phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035 trên cơ sở hợp nhất: Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa, Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển.

Tổng nguồn lực thực hiện chương trình giai đoạn 2026-2030 là 808.558 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách Trung ương là 345.000 tỷ, bao gồm 244.200 tỷ vốn đầu tư công và 100.800 tỷ kinh phí thường xuyên.

Ngân sách địa phương là 395.392 tỷ. HĐND cấp tỉnh quyết định cơ cấu vốn đầu tư công, kinh phí thường xuyên nguồn ngân sách địa phương.

Ngân sách nhà nước cấp thực hiện tín dụng chính sách là 23.000 tỷ. Đối ứng của cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng là 20.429 tỷ. Nguồn huy động hợp pháp khác là 24.737 tỷ.

Quốc hội giao Chính phủ rà soát, quyết định điều chỉnh cơ cấu vốn đầu tư công, kinh phí thường xuyên ngân sách Trung ương của Chương trình bảo đảm bố trí vốn đầu tư công tập trung, không dàn trải, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên theo Kết luận số 18 của Trung ương.

Trong quá trình thực hiện, Chính phủ tiếp tục cân đối ngân sách trung ương ưu tiên hỗ trợ thêm cho chương trình, bao gồm vốn tín dụng chính sách, bảo đảm phù hợp với khả năng cân đối ngân sách, tiến độ thực hiện và kết quả thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ, giải ngân ngân sách nhà nước.

Tại kỳ họp Quốc hội đầu năm 2030, Chính phủ báo cáo Quốc hội kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của chương trình giai đoạn 2026-2030, đề xuất nguồn lực cần huy động để thực hiện chương trình trong giai đoạn 2031-2035.

Trần Thường

Phạm Hải

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/viet-nam-chinh-thuc-co-them-2-tinh-len-thanh-pho-2548576.html