Bóng ngựa trên miền di tích
Ở nước ta, ngựa không chỉ là con vật gần gũi, hữu ích trong đời sống mà đã hóa thân thành một biểu tượng văn hóa đa diện, kết nối giữa thực tại và tâm linh, giữa nét đẹp bình dị và kiêu hãnh, uy linh. Theo bước mùa xuân này, ghé thăm một số di tích lăng tẩm, đền, chùa,... trên mảnh đất xứ Thanh - nơi lưu giữ những con ngựa đá có tuổi đời hàng trăm năm để nghe nhịp thời gian khẽ chạm vào tâm thức...

Tượng ngựa đá tại “kinh đô kháng chiến” Vạn Lại - Yên Trường.
Kinh đô Vạn Lại – Yên Trường trước thềm xuân – Tết Bính Ngọ 2026. Có một điều trùng hợp đến thú vị, cũng chính vào năm Bính Ngọ (1546) cách đây 480 năm, để củng cố quyền quản lý vùng đất từ Thanh Hóa trở vào Nam và tiêu diệt quân Mạc, thu phục Thăng Long, Thái sư Trịnh Kiểm đã tâu lên vua Lê Trang Tông về địa thế ở vùng đất Vạn Lại có “núi đứng sừng sững, nước uốn quanh, thực đáng gọi là thế đẹp. Đó là do trời xếp đặt để làm cho dấy nghiệp đế vương”. Từ đây, cùng với việc xây dựng và phát triển lực lượng, nhà Lê đã tiến hành xây dựng hành điện Vạn Lại. Có thể coi Vạn Lại là kinh đô đầu tiên của triều đình nhà Lê trong sự nghiệp trung hưng.
Trải qua biến thiên thời gian, thế sự xoay vần, thuận- nghịch có lúc, thành - bại mấy khi, hành cung xưa đã không còn; những di tích vật chất trên vùng đất kinh đô xưa còn lại rất ít. Tuy nhiên, chính những dấu tích tồn tại hàng trăm năm ấy là minh chứng sinh động về giai đoạn đầy biến động của lịch sử phong kiến Việt Nam, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng, vừa là hậu phương vừa là chiến tuyến của mảnh đất Thanh Hóa trong giai đoạn này.
Giữa khoảng không gian xanh mát, tĩnh lặng, dấu tích kinh đô xưa hiện diện trước mắt hậu thế với dáng vẻ thật khiêm nhường. Một ban thờ nhỏ, bày trí đơn sơ; cách đó không xa là một đôi ngựa, 1 đôi voi chầu được chế tác bằng đá xanh nguyên khối. Voi ở tư thế quỳ, ngựa ở tư thế đứng chầu song song đối diện nhau. Từng cặp voi – ngựa đứng cách nhau khoảng 1,2m theo chiều Bắc - Nam, hai cặp cách nhau khoảng 9m theo chiều Đông – Tây. Trải rộng ra một vùng rộng lớn, qua một số cuộc khai quật, thám sát và trong đời sống sinh hoạt của Nhân dân quanh vùng phát hiện nhiều di vật như các mảnh gạch, ngói vỡ, sành, gốm men, đạn đá, sắt, tiền đồng...
Sự tồn tại của cặp voi, ngựa đá là chỉ dấu lịch sử quan trọng, mở ra nhiều hướng tiếp cận, nghiên cứu về kinh đô Vạn Lại - Yên Trường, nhất là việc tìm hiểu, xác định tính chất, chức năng của hành điện Vạn Lại.
Căn cứ vào vị trí của hai cặp voi, ngựa còn lưu giữ được, nhiều nhà nghiên cứu xác định hành tại Vạn Lại xưa được xây dựng theo hướng Đông - Nam; khoảng cách giữa 2 cặp voi - ngựa cũng chính là độ rộng của cửa hành tại.
Trong tham luận “Vạn Lại – Yên Trường: Kinh đô thời chiến của nhà Lê Trung hưng” gửi tới Hội thảo khoa học “Kinh đô Vạn Lại – Yên Trường trong lịch sử vương triều Lê” do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Viện Sử học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) tổ chức vào năm 2021, nhà nghiên cứu Viên Đình Lưu cho biết: “Trước đây, chúng tôi cho rằng khu vực Vạn Lại là hành điện của nhà Lê Trung hưng; cặp voi – ngựa là linh thú chầu trước thềm hành điện. Tuy nhiên, sau này khi tiếp xúc, nghiên cứu các di tích đồng đại thời Lê Trung hưng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, chúng tôi cho rằng cần phải có những cứ liệu chắc chắn hơn. Hầu như tất cả di tích lịch sử - văn hóa – nơi có những linh thú lớn như voi, ngựa được tạo tác theo phong cách tả thực bằng đá xanh nguyên khối với tỷ lệ 1/1, chủ yếu là các sinh phần, đền, nghè thờ tự các nhân vật lịch sử thời trung hưng. Đó là đền thờ Nguyễn Văn Nghi, lăng Quận mãn, đền thờ Quận công Lê Đình Châu, đền và lăng mộ Lê Thì Hiến...”.
“Không chỉ có cặp ngựa đá, vùng đất Vạn Lại xưa còn lưu truyền giai thoại đẹp, linh thiêng liên quan đến hình tượng con ngựa” – nhà nghiên cứu Hoàng Hùng chia sẻ. Chuyện kể rằng: Trong cuộc chiến Lê– Mạc, có vị tướng nhà Lê đi đánh giặc, sau đó bị trọng thương. Con ngựa do ông cưỡi cũng bị thương nặng. Mặc dù rất đau đớn, ngựa vẫn nhất mực trung thành, dũng cảm, đưa chủ tướng bị thương đang nằm gục trên yên chạy về phía hành điện Vạn Lại. Đến đây, con ngựa mới gục xuống và chết; vị tướng sau đó cũng chết. Người đời vì cảm phục, yêu mến trước sự hy sinh, xả thân vì đại nghiệp của vị tướng và tấm lòng trung của con ngựa chiến ấy mà xây dựng nên ngôi đền thờ Bạch Mã. Tiếc rằng, đến nay, ngôi đền thờ ấy không còn lưu giữ được, chỉ xác định được vị trí xây dựng đền xưa. Tuy nhiên, câu chuyện ấy vẫn mãi được lưu truyền trong dân gian.
Không có được tầm vóc lịch sử như kinh đô Vạn Lại- Yên Trường nhưng khu lăng mộ Quận công Lê Trung Nghĩa (thường gọi lăng mộ Quận Mãn, phường Đông Quang) lại là nơi lưu giữ được nhiều hiện vật bằng đá độc đáo như: bia đá cổ, các cột đá, chân đá tảng, tượng quân binh cầm kiếm đứng chầu, hệ thống linh thú (rồng, voi, ngựa, rùa, chó đá) tạo tác tinh xảo.
Theo sử sách, Quận công Lê Trung Nghĩa là người làng Tu, thôn Nhuệ, thuộc xã An Hoạch, tổng Quảng Chiếu, huyện Đông Sơn (nay là phường Đông Quang). Vì nhà nghèo nên ông phải bỏ quê ra đi để tránh tục lệ khao làng. Sau khi rời làng, ông được tuyển vào đội quân cấm vệ. Với tinh thần trung quân ái quốc và nhiều đóng góp cho triều đình, ông dần thăng tiến đến chức Đô đốc Tổng trấn, được phong tước Quận công nên người ta gọi ông là Quận Mãn. Ông Lê Đình Chắc (80 tuổi), trưởng họ Lê Đình kể chuyện: “Khi còn sống, Quận Mãn đã bỏ tiền mua ruộng đất của 9 làng quanh khu vực để chia cho người dân canh tác. Dân làng cảm kích trước công đức của ông nên đã xin lập một sinh từ”.

Tượng ngựa đá trong tư thế uy nghi đứng chầu tại khu lăng mộ Quận công Lê Trung Nghĩa được tạo tác tỉ mỉ, tinh xảo đến từng đường nét, hoa văn.
Kiến trúc tổng quan của khu lăng mộ thoáng đãng, hòa hợp với thiên nhiên. Vật liệu được sử dụng chủ yếu là đá lấy từ khu vực núi Nhồi và cũng chính đôi bàn tay tài hoa, sức sáng tạo của nghệ nhân điêu khắc làng Nhồi đã thổi hồn vào đá, biến những phiến đá thô cứng thành các tác phẩm nghệ thuật sống mãi với thời gian. Trong đó, cặp ngựa đá nổi bật trong tư thế uy nghiêm đứng chầu bên cạnh một cặp voi đá đang quỳ và dãy tượng tay cầm binh khí, mũi binh khí hướng thẳng lên trời.
Trong bài viết “Hình tượng con ngựa trong điêu khắc đá thời Lê Trung hưng”, đăng tải trên Tạp chí Giáo dục nghệ thuật, tác giả Đào Hữu Đạt nhận định: “Nghệ thuật tạo hình con ngựa thời Lê Trung hưng là một trong những điểm nhấn trong điêu khắc cổ Việt Nam. Đây là một trong những giai đoạn mà ngựa có số lượng tác phẩm điêu khắc nhiều nhất, có tạo hình đẹp nhất, mạnh mẽ nhất. Các nghệ nhân điêu khắc dân gian đã tạo nên những con ngựa có kích thước lớn cùng cách tạo hình phối hợp cả nghệ thuật tượng trưng và nghệ thuật hiện thực”.
Tượng ngựa trong lăng mộ thời Lê Trung hưng thường có tỷ lệ tương đương với kích thước con vật thực ngoài đời. Tác giả Đào Hữu Đạt miêu tả chi tiết: Phần tạo dáng cơ thể của ngựa được thể hiện với khuynh hướng tự nhiên, tập trung trang trí cầu kỳ ở khu vực yên ngựa với đầy đủ dây buộc mõm ngựa nối dài, yên cương, bàn đạp, vải phủ có hoa văn, bông gù, tua rua, lục lạc... Quan sát thực tế cặp ngựa chầu tại khu lăng mộ quận công Lê Trung Nghĩa thấy sự trùng khớp với những mô tả trên, thậm chí có phần cầu kỳ, tỉ mỉ hơn.
Với những gì còn lưu giữ được, khu lăng mộ Quận công Lê Trung Nghĩa tựa hồ như “bảo tàng đá” thu nhỏ. Sau hàng trăm năm lịch sử, khu lăng mộ vẫn luôn là biểu tượng đẹp cho truyền thống lịch sử - văn hóa, làng nghề vùng đất Nhồi, niềm tự hào của các thế hệ cháu con nơi này.
Theo nhịp bước thời gian, bóng ngựa trên những miền di tích xứ Thanh đã hòa cùng bóng dáng, hơi thở mùa xuân. Tiếng vó ngựa dồn dập vọng về từ quá khứ, đánh thức cả một vùng di tích và khơi dậy những vang động lẫm liệt của lịch sử tự thuở ngàn xưa...
Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/bong-ngua-tren-mien-di-tich-278358.htm












