BS Giang Văn Toản: Những ca mổ giành sự sống giữa chiến trường lửa đạn

Gần 20 năm ở chiến trường, bác sĩ quân y Giang Văn Toản 7 lần bị thương, dùng mọi cách cứu đồng đội giữa bom đạn và thiếu thốn.

Người chiến sĩ – bác sĩ

Thượng úy, bác sĩ quân y Giang Văn Toản, sinh năm 1943 tại Quốc Oai (Hà Nội). Theo chia sẻ của ông, tháng 3/1964, khi vừa tròn 20 tuổi, ông Giang Văn Toản nhập ngũ và được biên chế về Trung đoàn 320 của Bộ Quốc phòng, đơn vị chủ lực đầu tiên tiến vào chiến trường miền Nam. Sau thời gian huấn luyện, học chính trị tại Xuân Mai (Hà Tây cũ), tháng 8/1964, ông cùng đồng đội bắt đầu cuộc hành quân vào Nam, mở đầu những năm tháng gắn bó với chiến trường ác liệt.

BS Giang Văn Toản chụp sau ngày mới giải phóng. Nguồn: TTX.

BS Giang Văn Toản chụp sau ngày mới giải phóng. Nguồn: TTX.

Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo bác sĩ ngoại khoa, ông được điều trở lại Trung đoàn 320, đảm nhiệm công tác tại bệnh xá, giữ cương vị Đại đội trưởng quân y của Trung đoàn, đồng thời phụ trách huấn luyện các lớp y tá phục vụ chiến trường.

Từ đây, cuộc đời quân y của ông gắn liền với những trận đánh khốc liệt trên nhiều chiến trường. Không chỉ tổ chức cấp cứu, điều trị cho những thương binh nặng, BS Giang Văn Toản còn trực tiếp theo các đơn vị chiến đấu trong những chiến dịch giải phóng các tỉnh miền Tây Nam Bộ, khu vực giáp biên giới Campuchia.

Trung đoàn 320 hành quân vào chiến trường miền Nam năm 1964 với quân số gần 2.800 cán bộ, chiến sĩ. Đến ngày 30/4/1975, toàn đơn vị chỉ còn lại 17 người; ông là một trong số đó.

Gần 20 năm gắn bó với chiến trường, BS Giang Văn Toản đã 7 lần bị thương, để lại tỷ lệ thương tật 71%. Có lần, ông bị đạn bắn trúng vùng miệng, gãy 5 chiếc răng, cận kề nguy hiểm đến tính mạng.

Những lúc đồng đội cần được cứu chữa, ông gạt bỏ đau đớn của bản thân để hoàn thành công việc của một người lính quân y, giành lại sự sống cho những người cùng chiến đấu bên mình.

Dùng mật ong, nước dừa và mọi cách có thể để giữ sự sống đồng đội

Chiến trường thiếu thốn khiến người bác sĩ quân y nhiều lần phải tìm cách thay thế những vật tư y tế không còn.

Bàn mổ chỉ là bốn cành trâm bầu đóng xuống đất, ghép thanh ngang rồi phủ ni-lông. Ban đêm, ánh sáng từ đèn pin được quấn kín bằng lá cây, chỉ chừa một khe nhỏ để tránh lộ mục tiêu. Có những lúc địch bắn quá dữ dội, cả ê-kíp phải ngồi cúi sát mặt đất suốt ca mổ.

Ở vùng Đồng Tháp, muỗi dày đặc đến mức các bác sĩ phải mắc màn để đứng trong màn phẫu thuật, tránh muỗi bay vào vết thương hở.

Khó khăn nhất vẫn là thiếu thuốc. Khi kháng sinh cạn kiệt, BS Giang Văn Toản dùng thuốc ký ninh pha với nước cất để xử lý vết thương. Từ thực tế điều trị, ông và đồng đội nhận thấy mật ong rừng giúp vết thương sạch, hạn chế hoại tử và mùi hôi nên sử dụng cho những trường hợp chưa thể phẫu thuật ngay.

Trong điều kiện chiến trường ác liệt, không còn dịch truyền, ông áp dụng truyền nước dừa bánh tẻ trực tiếp cho thương binh bị mất nước. Mỗi quả dừa cung cấp khoảng nửa lít nước, chỉ cần truyền khoảng 300 ml đã giúp nhiều bệnh nhân vượt qua giai đoạn nguy kịch.

Không chỉ thiếu thuốc, bông băng cũng vô cùng khan hiếm. Vải sau khi sử dụng được giặt sạch, phơi khô rồi hấp lại để tiếp tục dùng cho các ca phẫu thuật sau.

Có lần, để có thuốc kháng sinh cứu thương binh tại Long An, ông đã bán chiếc đồng hồ kỷ niệm của đồng đội tặng để đổi lấy thuốc. Khi biết chuyện, đơn vị đã mua tặng ông một chiếc đồng hồ khác.

Nghĩa tình nhân dân tiếp sức mạnh niềm tin ngày chiến thắng

Cuối năm 1969, đầu năm 1970, chiến trường Long An bước vào giai đoạn đặc biệt ác liệt. Theo cựu chiến binh, bác sĩ quân y Giang Văn Toản, khu vực Nam lộ 4 gần như trở thành "vùng trắng", địch kiểm soát gắt gao, lực lượng của Trung đoàn 320 phải bám trụ trong những hầm bí mật và sống chủ yếu nhờ sự đùm bọc của nhân dân.

Giữa vòng vây của chiến tranh, nhiều người dân đã bất chấp hiểm nguy để tiếp tế, che chở bộ đội. Ông vẫn không quên đêm cùng đồng đội đến nhà chị Hai Tỏ nhận lương thực. Chị không dám mở cửa, chỉ lặng lẽ đưa sáu hộp thịt qua kẽ liếp và thì thầm báo có địch phục kích. Vừa khi bộ đội rời đi, địch lập tức nổ súng bắn xối xả vào ngôi nhà.

Ban liên lạc truyền thống Trung đoàn 320 phía Bắc (từ trái sang phải là các cựu chiến binh: Đại úy Mai Trung Kiên, Phó ban Liên lạc; Đại úy Chu Thanh An, Trưởng ban; Thiếu tá Nguyễn Đình Nham (đã mất); Trung sĩ Đào Duy Cử; Thượng úy Giang Văn Toản. Nguồn: QĐND.

Ban liên lạc truyền thống Trung đoàn 320 phía Bắc (từ trái sang phải là các cựu chiến binh: Đại úy Mai Trung Kiên, Phó ban Liên lạc; Đại úy Chu Thanh An, Trưởng ban; Thiếu tá Nguyễn Đình Nham (đã mất); Trung sĩ Đào Duy Cử; Thượng úy Giang Văn Toản. Nguồn: QĐND.

Ở Tân Trụ có má Ba "cơm nguội" ngày nào cũng nấu sẵn nồi cơm để đêm bộ đội đến lấy. Cô Bảy Nghiệm khi ấy mới 18 tuổi cùng nhiều thôn nữ đêm nào cũng gánh nước dự trữ cho bộ đội. Tại Cần Đước, Hội Mẹ chiến sĩ ấp 2, xã Long Định mua ni-lông, bếp dầu tiếp tế cho đơn vị. Các mẹ ở Châu Thành luôn dặn con cháu dành phần thức ăn ngon nhất cho những người lính từ miền Bắc vào chiến đấu.

Không chỉ tiếp tế, người dân còn nhiều lần cứu bộ đội khỏi vòng vây của địch. Ông Toản nhớ trường hợp anh Bùi Minh Giám, Chính trị viên Tiểu đoàn 5, bị thương nặng lòi ruột. Khi đội phẫu thuật đang trải ni-lông mổ cấp cứu trên một gò mả thì bị địch phát hiện. Người dân trong làng đã nhanh chóng đưa anh xuống hầm bí mật để bảo toàn tính mạng.

Nhân dân vùng căn cứ còn nghĩ ra nhiều cách báo tin cho bộ đội. Ban đêm, ngọn đèn dầu trở thành ám hiệu: có địch thì tắt, an toàn thì thắp sáng. Ban ngày, màu áo phơi trước sân cũng mang ý nghĩa riêng: áo đen báo có địch, áo trắng báo khu vực an toàn.

Nhiều tháng liền, bộ đội phải ẩn mình trong cây cỏ ngoài đồng, đối mặt với bom đạn và những cuộc càn quét liên tiếp. Ngày nào cũng có đồng đội hy sinh. Có lần, chứng kiến quá nhiều mất mát, một cô giáo trong vùng đã bật khóc: "Anh em hy sinh nhiều thế này thì còn người đâu mà chiến đấu". Thế nhưng, giữa gian khổ và mất mát, những người lính vẫn giữ vững niềm tin vào ngày chiến thắng.

Sau khi nghỉ hưu vào tháng 6/1981, BS Giang Văn Toản trở về bên gia đình, bắt đầu cuộc sống đời thường. Nhưng những năm tháng chiến đấu, những ca mổ giữa bom đạn và hình ảnh đồng đội đã nằm lại nơi chiến trường vẫn mãi là ký ức không thể quên trong cuộc đời ông. Với người bác sĩ quân y năm ấy, điều may mắn nhất là đã được trở về, tiếp tục sống và kể lại câu chuyện về một thế hệ đã dành trọn tuổi trẻ cho Tổ quốc.

Mai Nguyễn

Nguồn Tri Thức & Cuộc Sống: https://kienthuc.net.vn/bs-giang-van-toan-nhung-ca-mo-gianh-su-song-giua-chien-truong-lua-dan-post1625928.html