Bức thư 'thiêng' chỉ đường cho vợ liệt sĩ tìm chồng sau 29 năm
Ngày thứ 77 của cuộc chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, liệt sĩ Lê Văn Huỳnh ngã xuống. Ông viết lá thư 'thiêng' khuyên vợ đi bước nữa, nhưng cũng mong hòa bình bà đi tìm ông về.

Hẹn ngày về
Bức thư 'thiêng' chỉ đường cho vợ liệt sĩ tìm chồng sau 29 năm
Thảo Thu - Ánh Hoàng - Đinh Hà
____________
Ngày thứ 77 của cuộc chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, liệt sĩ Lê Văn Huỳnh ngã xuống. Ông viết lá thư "thiêng" khuyên vợ đi bước nữa, nhưng cũng mong hòa bình bà đi tìm ông về.
"Em yêu thương!
...
Khi em nhận được thư này hãy đừng buồn nhiều cho đời tươi trẻ. Nếu có điều kiện hãy cứ bước đi bước nữa vì đời còn trẻ lắm.
…
Nếu thương anh thực sự thì khi hòa bình có điều kiện vào Nam lấy hài cốt anh về".
Ngày 11/9/1972, giữa tiếng pháo gầm và mưa bom trút xuống dòng sông Thạch Hãn, liệt sĩ Lê Văn Huỳnh (sinh năm 1949) bình thản viết một bản "di chúc" gửi về hậu phương. Trên 10 trang sổ tay xé vội, bên cạnh nỗi day dứt vì có thể không còn cơ hội trở về phụng dưỡng mẹ, ông dặn vợ đừng quá đau buồn khi mình ra đi.
4 tháng sau, ông hy sinh ở chiến trường Quảng Trị, đúng một năm ngày cưới bà Đặng Thị Xơ (sinh năm 1950).
Hơn 50 năm, lời từ biệt trong trang giấy úa màu vẫn được bà Xơ nâng niu như báu vật, lưu giữ nguyên vẹn một tình yêu mà chiến tranh không thể lấy đi.
7 ngày làm vợ
Trong căn nhà tình nghĩa nằm cuối con ngõ ở xã Lê Lợi (tỉnh Thái Bình cũ, nay là Hưng Yên), đôi mắt bà Xơ ánh lên niềm vui nho nhỏ khi nhớ về những năm tháng tươi trẻ của gần 60 trước. Khi ấy, bà là cô thợ máy nông nghiệp, chuyên chạy máy bơm, máy xát ở địa phương.
Đến tuổi cập kê, bà được nhiều chàng trai để ý vì tháo vát, xinh xắn, song tự nhủ chỉ ưng người hơn mình 3-5 tuổi. Nhưng rồi duyên số đưa đẩy, bà được chị dâu giới thiệu ông Huỳnh - con trai út trong gia đình có 3 anh chị em, hơn bà 1 tuổi.
Lên lớp 10, ông Huỳnh theo anh trai lên Yên Bái (cũ) học rồi đỗ vào Đại học Xây dựng. Vì nhà nghèo, tranh thủ cuối tuần nghỉ, ông lại nhảy tàu về bãi khai thác nứa bán lấy tiền ăn học.
Nghĩ về chàng trai xóm bên có mái tóc xoăn nhẹ, đôi mắt buồn và răng khểnh rất duyên, bà Xơ nửa ưng nửa ngại. Ưng vì ông hiền lành, học giỏi, nhưng cũng sợ "với cao" khi mình chỉ học hết lớp 4.
Nhưng số phận đã định họ là một đôi.
Yêu 3 năm, cả hai gần như không có một buổi hẹn đúng nghĩa. Tan ca đi ngang nhà người yêu, bà Xơ chỉ dám đứng ngoài nếu không thấy ông bước ra đón. Ông cũng hiếm khi sang nhà bà chơi vì ngại ngùng. Dẫu vậy, tình cảm cứ lặng lẽ lớn lên qua những lần chờ nhau trước cổng, những cuộc trò chuyện ngắn ngủi trước ngày ông xuống trường.

Bà Xơ say sưa kể câu chuyện đã qua hơn nửa thế kỷ, khi tình yêu của bà và liệt sĩ Lê Văn Huỳnh nảy nở giữa những năm tháng đôi mươi.
"Khi nào học xong anh sẽ cưới em", bà Xơ đinh ninh lời hẹn của ông Huỳnh cho đến một ngày cuối năm 1971, khi ông nhận được thông báo nhập ngũ ở năm 4 đại học.
Ông gọi về nói ngắn gọn: "Ở nhà chuẩn bị nhé, anh về cưới".
"Anh cưới ai?", bà kinh ngạc hỏi.
"Cưới em chứ ai", ông đáp, vẫn giấu chuyện mình sắp đi bộ đội.
Một đám cưới đơn sơ được tổ chức vào ngày 2/1/1972. Không loa đài, phông bạt, cũng chẳng có cỗ bàn, trầu cau, gia đình chỉ có vài ly nước chè rót mời người thân, làng xóm báo tin "cái Xơ, thằng Huỳnh nên vợ nên chồng".
Nghĩ lại, bà Xơ thoáng xót xa khi ngày ấy chẳng có lấy một bộ đồ tươm tất. Ông Huỳnh diện chiếc áo trắng cũ đi học còn nguyên vết cháy đen ở cổ. Bà mặc quần áo lao động hàng ngày, tóc tai cũng không kịp sửa sang.
Nhưng điều khiến bà Xơ nuối tiếc nhất là hai vợ chồng không có một tấm ảnh cưới. "Tôi bảo ông ấy chụp một bức để ở nhà, lúc nhớ còn có cái mà ngắm nhưng ông không chịu. Về sau trên đường vào Quảng Trị, ông gửi về bức ảnh chụp năm 17 tuổi cùng một người bạn, dặn tôi chịu khó tách ra. Đó cũng là tấm hình duy nhất của chồng tôi có được đến giờ".

Liệt sĩ Lê Văn Huỳnh ở mãi tuổi 17 trong bức ảnh duy nhất ông gửi vể cho gia đình trên đường ra trận, tháng 5/1972. Khi ấy, ông 23 tuổi.
Cưới được 3 hôm, ông Huỳnh phải trở lại trường. Tiền mừng cưới được 27 đồng, bà dúi vào tay chồng, dặn ông khi nào mua lấy cái bút, cuốn vở để học. Tết Nguyên đán năm đó, ông về nghỉ thêm được 3 ngày. Cộng thêm nửa ngày hôm lên đường nhập ngũ, hai người chưa có đến 7 ngày bên nhau với tư cách vợ chồng.
Hôm cuối ông ở nhà, mẹ chồng nấu cơm sớm, dặn con dâu trước khi đi làm: "Khi nào Huỳnh về, bảo nó ăn rồi hãy ra ga tàu. Con cũng đừng đi tiễn, rồi quỵ lụy nó lại nặng lòng".
Mâm cơm trưa chỉ có bát canh, đĩa cá kho, hai vợ chồng nhìn nhau mà không ai nuốt nổi, nước mắt cứ thế rơi. Ông nắm tay vợ, nói nhẹ: "Mình là vợ chồng. Anh đi chiến đấu, sau này ngộ nhỡ anh trở về không lành lặn, xin em đừng hắt hủi anh, em nhé".
Bà Xơ không ngờ lần ly biệt này sẽ kéo dài mãi mãi.
Bức thư "thiêng" ở Thành cổ
Sau ngày nhập ngũ 26/5/1972, ông Huỳnh theo đơn vị vào chiến trường Quảng Trị. Dẫu mưa bom ác liệt, tháng nào ông cũng gửi thư về nhà. Trong thư, ông động viên mẹ và anh chị, nhờ người nhà mua cho lưỡi dao cạo. Về phần vợ, ông dặn thêm: "Viết thư cho anh không được yếu đuối quá, như thế là không đến tay anh đâu".
Ông cũng kể cho bà nghe chuyện ở tiền tuyến, rằng Thành cổ bị xới nát chỉ còn đống đất vụn: "Anh mang tiếng đi chiến đấu, người ta trực tiếp cầm súng, nhưng anh thì không. Anh theo chỉ huy đi đào hầm, vận chuyển bộ đội từ bờ Bắc sang bờ Nam. Nhưng mà tình hình khốc liệt quá, em à".
Ở nơi ranh giới sinh tử mong manh như tờ giấy, ông Huỳnh như dự cảm về cái chết đang đến gần. Ngày 11/9/1972, dưới bến cầu sắt Thạch Hãn, ông viết một bức thư cho gia đình từ những trang sổ tay xé ra, dài gần 10 trang khổ nhỏ.
Trong thư, ông không một lần viết từ "hy sinh". Ông xem cái chết như một nhiệm vụ thầm lặng, một chuyến "đi xa" để sống trọn đời cho Tổ quốc.
Khi em nhận được thư này hãy đừng buồn nhiều cho đời tươi trẻ. Nếu có điều kiện hãy cứ bước đi bước nữa vì đời còn trẻ lắm
Liệt sĩ Lê Văn Huỳnh, tháng 9/1972
Nhắn gửi người vợ chỉ kịp sống bên nhau 7 ngày, nét chữ của ông phảng phất nỗi day dứt: "Chúng ta sống với nhau chưa được bao lâu, thì chiến tranh đã cướp đi của em biết bao yêu thương, trìu mến. Người ta lấy chồng thì được chiều chuộng mọi điều. Em chưa được hưởng diễm phúc ấy đã phải xa anh…".
Ông khuyên vợ "đi bước nữa", nhưng cũng mong sau này hòa bình, bà vào Nam mang hài cốt mình về.
"Đường đi như sau: Đi tàu vào thị xã Quảng Trị, qua sông Thạch Hãn là nơi anh đã hy sinh khi đưa hàng qua sông vào ngày 2-1-1973. Từ thị xã qua cầu, ngược trở lại, hỏi thăm thôn Nhan Biều. Em cứ đi đến đó, tính xuôi theo dòng nước thì ở cuối làng. Đến đó sẽ tìm thấy tấm bia ghi tên anh đục trên mảnh tôn. Mộ anh ở đó…".
Không ai hiểu tại sao ông biết trước cái chết của mình, và còn tường tận nơi mình sẽ nằm xuống để "chỉ đường" cho gia đình.

Giữa nơi mưa bom bão đạn, ông Huỳnh như dự cảm về cái chết đang đến gần. Ông viết lá thư trước ngày hy sinh 4 tháng, trong đó có nhiều lời dặn dò gia đình lo hậu sự cho mình.
Bức thư "thiêng" không được gửi đi ngay, mà trở về cùng những kỷ vật cuối cùng sau khi liệt sĩ Lê Văn Huỳnh hy sinh ngày 2/1/1973 - tròn một năm ngày cưới.
Ông trúng hỏa lực của địch khi đang làm nhiệm vụ chở hàng tiếp tế và một chiến sĩ vượt sông Thạch Hãn. Người lính này tình cờ là đồng hương cùng xóm ở Thái Bình, sau đó viết thư về nhà kể lại sự việc. Tin dữ đến tai bố đẻ bà Xơ, nhưng ông không đành lòng nói cho con gái.
Đúng chiều 30 Tết năm 1973, giấy báo tử và quân tư trang của liệt sĩ Huỳnh được một chiến sĩ xã bên mang về cho gia đình. Kỷ vật của ông chỉ có chiếc balo con cóc, bên trong vỏn vẹn bộ quần áo. Sợ em dâu không chịu nổi cú sốc, chị gái ông Huỳnh xin địa phương hoãn báo tử 3 tháng.
Bà Xơ cũng không nghĩ ngợi gì dù bặt tin chồng sau lá thư tháng 12/1972. Bà chỉ ngờ ngợ khi đồng đội ông bỗng nhiên ghé thăm chiều 30 Tết, giới thiệu là bạn học và xin một tấm hình của chồng bà làm kỷ niệm.
Đến khi ra Giêng, bà lấy làm lạ khi ở chỗ làm, mọi người cứ nhìn mình xì xào, hỏi han dạo này ông Huỳnh có viết thư về không. Linh tính mách bảo, bà tìm đến nhà người hàng xóm chứng kiến phút ông Huỳnh hy sinh mới vỡ lẽ mọi chuyện.

Nỗi đau mất chồng đã theo bà Xơ đi gần hết đời người. Mỗi lần đọc lại thư ông, bà đều nghẹn lại.
Giấy báo tử của liệt sĩ Huỳnh được gửi về nhà vào một chiều tháng 4/1973. Lúc ấy, bà Xơ đang đi đắp đê thì có người đến tìm, nói dối mẹ bà ốm. Tới nhà, mọi người đã làm xong lễ truy điệu, chỉ chờ bà về đặt di ảnh của ông vào quan tài.
Những ngày tháng sau, bà khóc suốt, "hai con mắt đỏ ngầu như máu". Bà không dám nhìn mặt mẹ chồng, cả ngày cứ cúi gằm mặt làm việc quần quật. Nhiều người nhìn xót xa, sợ bà sẽ chết mất.
"Con cứ thế này mẹ không chịu nổi", mẹ chồng bà mắt đỏ hoe, động viên con dâu ra hợp tác xã làm việc, có nhiều chị em bầu bạn cho nguôi ngoai.
Bà Xơ cứ gắng gượng sống mà không hay biết về những dòng trăng trối chồng viết 4 tháng trước khi hy sinh. Lá thư 10 trang được ông gấp gọn, bọc kỹ trong túi nilon nhét vào túi áo. May sao khi mang di vật của ông đi hóa, người thân phát hiện, kịp giữ lại.
Giữa năm 1975, chị chồng bà Xơ mới mang thư cất giữ lâu nay cho em dâu đọc.
"Bóc thư ra, đọc được mỗi dòng đầu, tôi òa khóc, không đọc nổi sang dòng thứ hai. Thấy vậy, chị chồng lại mang cất đi".
Đến năm 1976, khi nước mắt đã chảy ngược vào trong, bà Xơ mới lần đầu đọc hết từng chữ chồng viết, tỏ tường nỗi nhớ thương ông dành cho vợ. Cuối năm đó, bà thưa chuyện mẹ chồng cho dọn về nhà ngoại ở.
Nhìn người con dâu bà thương như con gái, mẹ ông Huỳnh lặng người: "Mẹ đã mất một đứa con rồi, giờ lại mất luôn cả hai đứa à". Câu nói đứt ruột gan của người mẹ khiến lòng bà Xơ nghẹn đắng. Nhưng ở lại, bà cũng kiệt quệ.
Từ đó, bà Xơ về ở cùng bố mẹ đẻ nhưng vẫn qua lại nhà chồng để lo lễ lạt, giỗ chạp và tròn chữ hiếu với mẹ chồng cho đến ngày bà mất.
Cả đời giữ trọn lời hứa
Sau khi ông Huỳnh hy sinh, nhiều người đến nhà ngỏ ý xin cưới bà Xơ. Mẹ chồng cũng có tâm nguyện gả bà đi bước nữa. Bà chỉ đáp: "Mẹ yên tâm, nếu có điều kiện, con sẽ thưa chuyện với mẹ. Còn không, mẹ cho con tự quyết định cuộc sống".
Lúc ấy, bà chẳng đành lòng tái giá khi lăn tăn mãi lời ông dặn: "Đưa anh về".
"Hứa sống trọn đời với ông ấy rồi, tôi cứ ở vậy thôi", bà nói.
Sau ngày đất nước thống nhất, gia đình ông Huỳnh từng vài lần vào Quảng Trị, lần theo chỉ dẫn trong bức thư cũ để tìm mộ ông ở cuối thôn Nhan Biều nhưng không có kết quả.
Bà Xơ từng dặn lòng nếu chồng nằm một trong những nấm mộ vô danh ở nghĩa trang, hãy cứ để ông ở lại với đồng đội. Nhưng ông vẫn hay về trong giấc mơ giấc mơ của bà. Có lúc, ông không mặc đồ bộ đội, trở lại với dáng vẻ anh sinh viên năm xưa hỏi cưới bà. "Xơ ơi, anh đây!", ông gọi vợ da diết như năm nào, khiến bà linh cảm chồng vẫn còn nằm đâu đó, đợi bà đến đón.
Hứa sống trọn đời với ông ấy rồi, tôi cứ ở vậy thôi
Bà Đặng Thị Xơ, vợ liệt sĩ Lê Văn Huỳnh
Năm 2002, bà Xơ khi ấy 52 tuổi, ngược xuôi khắp nơi tìm những người bạn học, đồng đội cũ của ông Huỳnh để hỏi thăm tin tức. Đau lòng thay, không ai hay biết ông hy sinh ở đâu.
Hy vọng được thắp lên khi bà tìm được ông Nguyễn Văn Cường - người đồng đội chính tay chôn cất ông Huỳnh và hai người lính khác ở bãi sông, dưới gốc quế to ở Quảng Trị năm 1973.
Gặp bà Xơ, ông Cường mới hay biết ông Huỳnh có một người vợ. Ông kể từng nhiều lần quay lại chiến trường xưa, nhưng không nghĩ đồng đội vẫn còn nằm lại đó.
Mọi khúc mắc giờ mới có lời giải: Trong thư, ông Huỳnh viết mình nằm lại tại thôn Nhan Biều. Nhưng sau đó, ông và đồng đội được điều gấp xuống xóm 2, thôn Thượng Phước. Hai thôn này cách nhau 7 km.
Trên bến sông năm đó có năm người, bom dội xuống khiến ba người hy sinh, trong đó có ông Huỳnh. Ông Cường bị thương, cùng hai đồng đội mai táng cho ba liệt sĩ, khâm liệm họ trong tấm tăng võng và đặt theo hình tam giác. Ba tấm tôn khắc tên ba người được dùng để đánh dấu.

29 năm sau ngày chồng ngã xuống ở Thành cổ Quảng Trị, bà Xơ cùng gia đình mới đón được ông về quê hương theo di nguyện.
Khi đã có thông tin quý giá, đoàn 7 người, gồm bà Xơ và ông Cường, lên tàu đi về Quảng Trị. Nơi chôn cất ông Huỳnh năm xưa đã thành vườn sắn mênh mông, được con trai bà Nguyễn Thị Ngân (xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong cũ) canh tác.
Vừa nghe cái tên Lê Văn Huỳnh, người đàn ông liền vào nhà lấy ra miếng tôn khắc tên liệt sĩ. Ông kể gia đình nhặt được ba miếng tôn và để đó suốt mấy chục năm trời. Năm 2001, ông mang hai tấm cất đi thì không lâu sau bà Xơ đến hỏi.
Bà Xơ phần nào được an ủi khi biết 29 năm trôi qua, gia chủ đều chăm sóc và hương khói chu đáo cho các liệt sĩ. Khu vực này trước đây cũng từng được địa phương đào tìm, nhưng chỉ quy tập được một hài cốt liệt sĩ. Người ta bảo có khi, ông Huỳnh vẫn chờ vợ đến đón về.
Cả đoàn dành hơn một ngày xới tung vườn sắn mà không thấy gì. Ông Cường quay sang ái ngại: "Chị Xơ ơi, em hỏi điều này không phải, nhưng em đặt giả thiết xấu nhất mà không tìm anh Huỳnh thì chị nghĩ sao? Ngày mai là em phải về ngoài kia".
Người vợ liệt sĩ lòng như lửa đốt nhưng cũng xót cho chủ nhà khi khu đất bị đào bới, cũng hiểu cho cái khó của đồng đội ông Huỳnh. Sáng hôm sau, bà nhờ đội tìm kiếm đi mua một ít sắt dài để làm thuốn.
Vừa đâm sâu xuống lòng đất thăm dò, bà thầm cầu nguyện ông linh thiêng cho mình tìm thấy hài cốt. Bỗng nhiên, chiếc thuốn đâm vào vật gì đó, kêu "bịch bịch". Ông Cường đoán chắc là tăng võng nên hô mọi người tập trung đào.

Hài cốt liệt sĩ Lê Văn Huỳnh được an táng ở nghĩa trang liệt sĩ địa phương, cách ngôi nhà bà Xơ sống khoảng 2 km. Thi thoảng, bà vẫn ra thắp hương cho chồng và các liệt sĩ.
Khi đưa được ba liệt sĩ lên, ông Cường không kìm được nước mắt: họ vẫn nằm yên như đang ngủ giấc sâu, giữa 2 quả bom.
"Mỗi người bị thương một kiểu, nên không sợ bị lẫn. Huỳnh bị gãy xương đùi, hy sinh ngay tại giao thông hào, vào ngày thứ 77 của cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ 81 ngày đêm", ông nghẹn giọng. Đúng như lời người lính năm xưa, khi mở tăng võng ra, vài mảnh đạn vẫn còn vướng bên trong, phần xương đùi của hài cốt thấy rõ vết gãy.
Giây phút gặp lại chồng, bà Xơ mừng đến nỗi người cứ lạnh đi, nước mắt rơi lã chã. Bà thì thầm: "Ý nguyện của ông tôi đã làm được rồi. Tôi chờ được ông về rồi".
Sau lễ truy điệu ngay tại vườn sắn, bà Xơ gói hài cốt chồng trong mảnh vải đỏ, đặt nhẹ vào túi, lên chuyến tàu ngược Bắc đưa ông trở về quê. Bà mua cho ông một vé tàu và ôm chặt hình hài của ông vào lòng.
Tiếc thay, mẹ ông Huỳnh không chờ được con trai, đã mất năm 1977. Anh chị và vợ đón ông về an táng tại nghĩa trang xã Hồng Thái (huyện Kiến Xương, Thái Bình cũ). Sau này, bà Xơ không còn gặp ông trong mộng.
"Có lẽ ngày về nhà, ông ấy đã toại nguyện rồi".
Bức thư được xem như là bản "di chúc" thiêng liêng của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh đã được gia đình trao tặng cho Bảo tàng Thành Cổ Quảng Trị sau 40 năm. Bà Xơ chỉ còn giữ bản sao thư sau khi phục chế, nhưng vẫn nâng niu như báu vật.
Ba năm làm người yêu, bảy ngày làm vợ chồng là quãng thời gian quá ngắn để vun đắp một cuộc hôn nhân trọn vẹn. Nhưng trong thời chiến, hạnh phúc vốn được tính bằng từng ngày, từng giờ, chỉ chừng ấy thôi cũng đủ để bà mang theo tình yêu và nỗi nhớ suốt hơn 50 năm.
"Tôi đã giữ trọn với ông ấy hai lời hứa. Một là đưa ông ấy về, hai là sống trọn đời với ông ấy. Giờ tôi mãn nguyện rồi", người phụ nữ 76 tuổi nở nụ cười thanh thản.
CHIẾN DỊCH 500 NGÀY ĐÊM
Nhằm hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2027), “Chiến dịch 500 ngày đêm” được phát động trong bối cảnh cả nước đẩy mạnh các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”. Đây là chiến dịch có tính toàn diện, quy mô lớn nhất từ trước tới nay nhằm tạo đột phá trong công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin.
1.491
hài cốt quy tập sau 4 tháng
467
tìm kiếm trong nước
174
tại Lào
850
tại Campuchia
Nguồn: Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ (tính đến ngày 26/7/2026)
Thảo Thu - Ánh Hoàng - Đinh Hà











