Bức tranh ảm đạm của ngành quỹ

Các quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán tỏ ra hụt hơi trong nửa đầu năm đặt ra những câu hỏi lớn trong giai đoạn phát triển tiếp theo của thị trường vốn.

Kết quả bảy tháng đầu năm 2026 có thể trở thành phép thử quan trọng đối với khả năng giữ chân khách hàng của các công ty quản lý quỹ. Ảnh minh họa: Hoàng Anh

Kết quả bảy tháng đầu năm 2026 có thể trở thành phép thử quan trọng đối với khả năng giữ chân khách hàng của các công ty quản lý quỹ. Ảnh minh họa: Hoàng Anh

Quỹ đầu tư "hụt hơi"

56/88 quỹ cổ phiếu ghi nhận hiệu suất âm, tương đương khoảng 64% tổng số quỹ được thống kê và gần gấp đôi tỷ lệ cùng kỳ năm 2025 theo thống kê của FiinGroup phản ánh một “lát cắt” khác về thị trường chứng khoán trong nửa đầu năm 2026.

Trong đó, đáng lưu ý có tới 14 quỹ duy trì hiệu suất âm trong 4 tháng liên tiếp, từ tháng 3 đến tháng 6/2026.

Bước sang tháng 7/2026, cú giảm tới 6,7%, đóng cửa tại ngưỡng 1.735 điểm, thậm chí có thời điểm lùi về sát mốc 1.651 điểm kéo theo hiệu suất của các quỹ tiếp tục giảm mạnh.

Trong thống kê của TCBS, VNDAF là trường hợp duy nhất còn duy trì được hiệu suất dương, ở mức 2%. Tuy nhiên, vị trí dẫn đầu này cũng phản ánh rõ mức độ khắc nghiệt của thị trường khi hiệu suất của quỹ đã giảm từ 16,5% sau bốn tháng xuống 9,3% sau năm tháng, 6,4% sau sáu tháng và chỉ còn 2% sau bảy tháng.

Chỉ ba quỹ khác có mức giảm thấp hơn VN-Index là TBLF âm 0,2%, BMFF âm 1,8% và MBVF âm 2,4%, trong khi đó, phần còn lại chủ yếu rơi vào trạng thái thua lỗ sâu hơn thị trường. Một số quỹ ghi nhận hiệu suất âm quanh 7 – 9%, trong khi nhóm cuối bảng xuất hiện hàng loạt mức giảm hai chữ số. DCDE giảm tới 20,7%, VEOF âm 15,1%, Vietnam Holding âm 14,9%, Vietnam Equity Fund âm 14,6%, DCDS âm 13,8%, còn VEIL và VESAF cùng âm 11,7%.

Trong thư gửi nhà đầu tư mới đây, ông Petri Deryng, nhà điều hành PYN Elite Fund, gọi tháng 7/2026 là một tháng “tồi tệ” của thị trường chứng khoán Việt Nam.

Điều này cho thấy ngành quỹ đang chịu những áp lực lớn, không chỉ ở kết quả đầu tư mà còn trong việc giữ chân dòng tiền, duy trì niềm tin của nhà đầu tư và chứng minh giá trị của hoạt động quản lý chuyên nghiệp.

Điểm đáng chú ý, khi phân tích sâu vào cấu trúc sâu danh mục, dù về lý thuyết, quỹ đầu tư có lợi thế so với nhà đầu tư cá nhân nhờ danh mục được phân bổ vào nhiều cổ phiếu. Tuy nhiên, việc danh mục của nhiều quỹ cùng tập trung vào một số nhóm ngành như ngân hàng, bán lẻ, thép, bất động sản và chứng khoán với mức độ biến động cao khiến nhiều khoản đầu tư vốn được kỳ vọng tạo tăng trưởng lại đồng thời kéo giảm giá trị tài sản ròng.

Tại VEOF, mười khoản đầu tư lớn nhất theo ghi nhận tới cuối tháng 6/2026 chiếm trên 50% NAV, gồm nhiều cổ phiếu ngân hàng như MBB, CTG, VCB, STB, HDB và TCB, bên cạnh HPG, MWG, PHR và PNJ. Sự tập trung vào những nhóm cổ phiếu chịu áp lực trong tháng 7 khiến hiệu suất của quỹ giảm xuống âm 15,1% sau bảy tháng.

Tình trạng tương tự diễn ra tại DCDE. Năm khoản đầu tư lớn nhất của quỹ gồm VHM, MWG, BID, STB và VPB đều giảm giá trong tháng vừa qua. Trong đó, MWG giảm 9,1%, BID giảm 9,3% và VPB giảm 8,2%, trực tiếp tạo sức ép lên danh mục và kéo hiệu suất quỹ xuống âm 20,7%.

Tại DCDS, mười khoản đầu tư lớn nhất cũng chiếm 55,7% NAV, tập trung vào VIC, BID, MWG, VHM, HPG cùng hàng loạt cổ phiếu ngân hàng. Hiệu suất của quỹ từ mức âm 7% sau sáu tháng đã giảm sâu xuống âm 13,8% sau bảy tháng.

Những con số này cho thấy một danh mục có nhiều cổ phiếu vẫn có thể mang tính tập trung cao, nếu phần lớn khoản đầu tư cùng phụ thuộc vào tín dụng, sức mua, chu kỳ bất động sản hoặc tâm lý của dòng tiền trên thị trường.

Tìm lời giải trong dài hạn

Theo dữ liệu cập nhật của TCBS, trong tuần từ ngày 27 đến 31/7, có 19 trong số 24 quỹ cổ phiếu ghi nhận NAV/CCQ tăng. PHVSF tăng 2,84%, VESAF tăng 2,8%, VCBFBCF tăng 2,63%, UVEEF tăng 2,46% và MAGEF tăng 2,42%.

Tính bình quân, nhóm quỹ cổ phiếu tăng khoảng 1% trong tuần. Tuy nhiên, cả 24 quỹ vẫn ghi nhận hiệu suất tháng âm, với mức giảm bình quân khoảng 8,3%. DCDE giảm 13,9% trong tháng, VEOF giảm 10,62%, NTPPF giảm 10,54%, VMEEF giảm 10,45% và TCGF giảm 10,35%.

Cập nhật NAV/CCQ của một số quỹ cổ phiếu trong tháng 7/2026. Nguồn: TCBS

Cập nhật NAV/CCQ của một số quỹ cổ phiếu trong tháng 7/2026. Nguồn: TCBS

Diễn biến trái chiều giữa kết quả tuần và kết quả tháng cho thấy thị trường đã có tín hiệu khởi sắc trở lại với ngành quỹ.

Các thông tin gần đây cho thấy tín hiệu tăng trưởng trở lại của thị trường bất động sản, nhất là vào ngày 21/8/2026, FTSE Russell sẽ công bố danh mục cổ phiếu chính thức được đưa vào rổ chỉ số FTSE Global Equity Index Series (FTSE GEIS) dành cho thị trường mới nổi, có hiệu lực từ ngày 21/9/2026.

Theo ước tính của FTSE, sau khi được nâng hạng lên thị trường mới nổi, thị trường chứng khoán Việt Nam có thể đón khoảng 6 tỷ USD từ các quỹ đầu tư chủ động và thụ động. Trong đó, riêng các quỹ ETF mô phỏng chỉ số FTSE được dự báo sẽ giải ngân khoảng 1,5 tỷ USD trong vòng một năm theo lộ trình từng giai đoạn.

Triển vọng này sẽ trở thành một trong những kỳ vọng lớn của nhà đầu tư cũng như các quỹ đầu tư. Vấn đề còn lại việc các quỹ đầu tư sẽ điều chỉnh như thế nào để thích ứng với thay đổi này, đặc biệt trong việc điều chỉnh danh mục kịp thời.

Thực tế, với các nhà đầu tư giai đoạn này, thay cho việc đánh giá thương hiệu của quỹ qua hiệu suất của một giai đoạn ngắn hạn, nhiều nhà đầu tư cân nhắc thêm cả yếu tố tính ổn định qua nhiều chu kỳ và khả năng kiểm soát mức giảm và sự minh bạch trong chiến lược phân bổ danh mục.

Nhìn lại giai đoạn 5 năm liên tiếp 2020–2024, trung bình hiệu suất các quỹ mở cổ phiếu đều vượt VN-Index từ gần 3 đến gần 9 điểm phần trăm mỗi năm. Tỷ lệ quỹ đánh bại chỉ số luôn duy trì ở mức từ 73% đến gần 90%, kể cả trong năm thị trường giảm mạnh như 2022, phản ánh lợi thế của mô hình quản lý chuyên nghiệp khi được đặt trong một chu kỳ đủ dài.

Dữ liệu quá khứ cũng cho thấy một giai đoạn suy giảm ngắn hạn chưa đủ để phủ nhận vai trò của các quỹ đầu tư trên thị trường vốn. Tuy nhiên, kết quả bảy tháng đầu năm 2026 đặt ra yêu cầu phải nhìn lại cách các quỹ xây dựng danh mục, phân bổ rủi ro và bảo vệ thành quả đã tích lũy trong những giai đoạn thuận lợi.

Trong bối cảnh thị trường Việt Nam đứng trước khả năng đón thêm dòng vốn quốc tế, cơ hội sẽ không được phân bổ đồng đều cho tất cả các quỹ. Dòng tiền mới có thể ưu tiên những doanh nghiệp có quy mô vốn hóa lớn, thanh khoản cao, tỷ lệ sở hữu nước ngoài phù hợp và đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn quản trị. Điều này buộc các quỹ phải đánh giá lại mức độ sẵn sàng của danh mục, thay vì chỉ chờ đợi mặt bằng thị trường cùng đi lên.

Ở góc độ xa hơn, trong chỉ đạo mới đây của Thủ tướng Chính phủ là việc đặt bốn nội dung gồm phát triển thị trường chứng khoán, huy động các quỹ đầu tư, đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và phát triển các sản phẩm chủ chốt cho trung tâm tài chính quốc tế vào cùng một chương trình hành động.

Điều này theo bà Nguyễn Thu Bình, Trưởng bộ phận quản trị rủi ro Công ty Quản lý quỹ PVI đồng nghĩa sự phát triển của thị trường vốn Việt Nam trong giai đoạn tới cũng sẽ mở rộng không gian cho ngành quản lý quỹ. Nhu cầu đầu tư dài hạn, tích lũy tài sản và phân bổ vốn chuyên nghiệp vẫn còn rất lớn, nhất là khi quy mô của nhà đầu tư tổ chức trong nước chưa tương xứng với tiềm năng của nền kinh tế.

Tuy nhiên, để tận dụng cơ hội này, các công ty quản lý quỹ cần chứng minh vai trò không chỉ trong những giai đoạn thị trường tăng trưởng thuận lợi. Yêu cầu đặt ra còn nằm ở khả năng đa dạng hóa hệ sinh thái sản phẩm, đáp ứng những mục tiêu đầu tư và mức độ chấp nhận rủi ro khác nhau của khách hàng.

Thay vì phụ thuộc chủ yếu vào các quỹ cổ phiếu, thị trường cần thêm những sản phẩm cân bằng, trái phiếu, tích lũy dài hạn và các danh mục được thiết kế theo từng mục tiêu tài chính cụ thể. Một hệ sinh thái đủ rộng sẽ giúp nhà đầu tư chủ động phân bổ tài sản, đồng thời hạn chế tình trạng dòng tiền cùng tập trung vào một số nhóm cổ phiếu trong những giai đoạn thị trường thuận lợi.

Đi cùng với việc mở rộng sản phẩm là yêu cầu nâng cao năng lực quản trị rủi ro. Các quỹ cần kiểm soát tốt mức độ tập trung danh mục, thanh khoản, biến động giá và khả năng đáp ứng nhu cầu mua lại chứng chỉ quỹ, thay vì chỉ đặt trọng tâm vào mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.

Bên cạnh đó, tính minh bạch cũng ngày càng trở thành yếu tố quyết định khả năng giữ chân nhà đầu tư. Việc công bố hiệu suất cần được đặt trong tương quan với chỉ số tham chiếu, mức độ rủi ro và chiến lược phân bổ tài sản, qua đó giúp nhà đầu tư hiểu rõ lợi nhuận được tạo ra từ đâu và phải đánh đổi bằng mức biến động như thế nào.

Trong một thị trường vốn trưởng thành, ngành quản lý quỹ không chỉ đóng vai trò là kênh đầu tư thay cho cá nhân. Các quỹ còn là lực lượng dẫn dắt dòng vốn dài hạn, góp phần giảm sự phụ thuộc của thị trường vào dòng tiền ngắn hạn và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ổn định hơn.

Việt Dương

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/buc-tranh-am-dam-cua-nganh-quy-d47163.html