Bức tranh chất lượng tài sản ngân hàng: Lãi dự thu tăng gấp đôi tốc độ tăng dư nợ, cho vay qua trái phiếu tăng 41%
Chứng khoán TCBS nhận định ba rủi ro cho chất lượng tài sản ngành ngân hàng nửa cuối 2026 là nợ nhóm 2 tăng hai quý liên tiếp, dự phòng tăng chậm hơn nợ xấu, và lãi dự thu tăng 36,1% so với cùng kỳ, gấp đôi tốc độ tăng dư nợ.
Nợ xấu tăng nhưng tập trung cục bộ
Chứng khoán Kỹ Thương (TCBS) vừa công bố báo cáo phân tích về chất lượng tài sản các ngân hàng nửa đầu năm. Theo thống kê trong 27 ngân hàng niêm yết cho thấy nợ xấu tập trung chủ yếu ở 4 ngân hàng (chiếm tỷ trọng khoảng 50,5%) gồm Sacombank, BIDV, VPBank và VietinBank.
Tính đến cuối quý II, nợ xấu toàn ngành tăng 16,1% so với cùng kỳ nhưng mang tính cục bộ trong đó Sacombank chiếm 77,7% mức tăng, 26 ngân hàng còn lại có tỷ lệ nợ xấu 1,78%, giảm từ 2,02%.
Điều này hàm ý rằng mức tăng 16,1% của nợ xấu toàn ngành đến từ một ngân hàng, không phải xu hướng chung. Đó cũng là nguyên nhân khiến tỷ lệ nợ xấu toàn ngành không giảm trong quý II so với cùng kỳ năm trước.

Dữ liệu cho thấy 20/27 ngân hàng đã giảm tỷ lệ nợ xấu so với cùng kỳ. Và nếu không tính Sacombank, 26 ngân hàng còn lại có tỷ lệ nợ xấu giảm từ 2,02% xuống 1,78% và số dư tuyệt đối chỉ tăng 3,8%. Những ngân hàng giảm mạnh nhất như NCB, ABBank, Nam A Bank.
Theo TCBS, nợ xấu tăng tại Sacombank (từ 1,77% lên 5,07%) là dấu hiệu phù hợp với việc ghi nhận nợ tồn đọng (kết thúc đề án tái cơ cấu, tài sản liên quan nhóm cổ đông cũ) hơn là nợ mới và tài sản bảo đảm cũng như khả năng thu hồi của hai trường hợp khác nhau.

Trong nửa đầu 2026, nợ xấu hình thành ròng đạt 104.323 tỷ đồng, tăng 3,7% so với 100.621 tỷ của cùng kỳ năm trước, trong khi dư nợ tăng 17,8%. Tính trên dư nợ cuối kỳ, tốc độ hình thành giảm từ 0,77% xuống 0,68%. Trong đó, nợ xấu hình thành tại Sacombank là 38.203 tỷ đồng, bằng 21,5% toàn ngành.
Cùng với đó, xử lý nợ bằng dự phòng trong kỳ đạt 57.565 tỷ đồng giảm 6,3% so với cùng kỳ, nên phần chênh lệch với nợ xấu hình thành ròng làm tăng số dư nợ xấu. Việc xử lý nợ cũng phân hoá giữa các ngân hàng.
Trong 12 tháng đến quý II/2026, Sacombank hình thành 38.203 tỷ đồng nợ xấu mới nhưng chỉ xử lý được 9,8% số dư nợ xấu; BIDV, VPBank và VietinBank hình thành ít hơn nhưng xử lý 60–76%. 11 ngân hàng xử lý vượt hình thành, dẫn đầu là Vietcombank, SHB và Nam A Bank.

Tại quý II/2026, dự phòng cho vay khách hàng đạt 244.445 tỷ đồng, thấp hơn số dư nợ xấu 65.936 tỷ đồng.Dự phòng tăng 14,7% nhưng nợ xấu tăng 16,1% so với cùng kỳ, nên tỷ lệ bao phủ giảm về 78,8%.
Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa trích lập thiếu. Theo Nghị định 86/2024/NĐ-CP, dự phòng cụ thể được tính sau khi khấu trừ giá trị tài sản bảo đảm, nên phần chênh lệch với số dư nợ xấu là phần được bảo đảm bằng tài sản.
Tỷ lệ bao phủ ngành giảm là do hai ngân hàng lớn (Sacombank, BIDV) trích lập chậm hơn tốc độ tăng nợ xấu, không phải xu hướng chung.

Cho vay qua trái phiếu tăng hơn 41%
Số liệu của TCBS cho biết trái phiếu doanh nghiệp toàn ngành tại 30/6/2026đạt 251.203 tỷ đồng, tăng 41,2% so với cùng kỳ, nhanh hơn dư nợ cho vay. Tỷ trọng trái phiếu trên dư nợ tăng lên 1,63% sau 4 kỳ bán niên giảm liên tiếp xuống 1,33%. Đây là kỳ tăng đầu tiên kể từ cuối 2023 và là mức tăng lớn nhất trong 6 kỳ.
Những con số này hàm ý rằng ngân hàng đang tăng cấp tín dụng qua trái phiếu. Mặc dù trái phiếu doanh nghiệp do ngân hàng mua vẫn phải phân loại nợ và trích lập theo Thông tư 31 và tính vào tổng dư nợ tín dụng, nhưng chỉ tiêu nợ xấu công bố (nợ xấu trên dư nợ cho vay khách hàng) không gồm khoản mục này vì báo cáo tài chính trình bày riêng.
Các ngân hàng không thuyết minh nhóm nợ của trái phiếu nên chưa tính được tỷ lệ nợ xấu mở rộng gồm cả trái phiếu.

Điểm đáng chú ý là 6 ngân hàng nắm 83,5% số dư trái phiếu doanh nghiệp toàn ngành và mức tăng tập trung ở Techcombank, HDBank, VPBank và SeABank.
Tại 30/6/2026, Techcombank nắm 102.079 tỷ đồng (40,6% số dư toàn ngành), HDBank nắm 27.836 tỷ (11,1%), MB nắm 26.373 tỷ (10,5%), VPBank nắm 21.625 tỷ (8,6%), NCB nắm 19.099 tỷ (7,6%) và SeABank nắm 12.818 tỷ (5,1%).
So với dư nợ cho vay của chính ngân hàng, NCB cao nhất với 14,3%, tiếp theo là Techcombank 12,05%, SeABank 5,05% và HDBank 4,22%; ba ngân hàng quốc doanh đều dưới 0,5%.

Lãi dự thu tăng 36,1%, gấp đôi tốc độ tăng dư nợ
Lãi và phí phải thu vào cuối quý II đạt 230.745 tỷ đồng, bằng 1,5% dư nợ cho vay, tăng 36,1% so với cùng kỳ trong khi dư nợ tăng 17,8%. Tỷ lệ lãi dự thu trên dư nợ tăng từ 1,30% lên 1,50%, vượt mức 1,46– 1,48% của giai đoạn cuối 2023 đến giữa 2024, trước đợt thoái lãi và xử lý nợ nửa cuối 2024 đưa tỷ lệ về 1,19%.
Đây là lãi đã ghi nhận vào thu nhập nhưng chưa thu được tiền dù khoản vay vẫn ở nhóm 1, khi khoản mục này tăng nhanh hơn dư nợ, chất lượng nợ chưa được phản ánh đầy đủ qua tỷ lệ nợ xấu.
Điều này cho thấy lãi dự thu đang tích lũy nhanh hơn dư nợ; một phần dư nợ nhóm 1 đã chậm trả lãi mà tỷ lệ nợ xấu 2,01% chưa phản ánh.
Nhóm có tỷ lệ lãi dự thu trên dư nợ cao nhất là VietABank 8,31% dư nợ (7.990 tỷ đồng), Bac A Bank 5,53% (7.539 tỷ), MSB 5,39% (12.416 tỷ), Nam A Bank 4,64% (10.147 tỷ), BVBank 3,43%, Vietbank 3,23%. 6 ngân hàng này có tỷ lệ nợ xấu 1,13–3,22% nhưng lãi chưa thu bằng 3–8% dư nợ, tức tỷ lệ nợ xấu công bố chưa phản ánh hết nợ có vấn đề.

Tính trong toàn ngành, lãi dự thu bằng 28,9% thu nhập hoạt động 12 tháng, tăng 36,1% trong khi thu nhập hoạt động tăng 17,1%. Số lãi chưa thu vượt hoặc gần bằng cả năm thu nhập hoạt động tại nhiều ngân hàng. Một số ngân hàng có tỷ lệ này cao như VietABank (202%), Bac A Bank (167%), Vietbank (96%), MSB và Nam A Bank (87%), BVBank (81%).



