TCBS Research: Chất lượng tài sản ngành ngân hàng đang phân hóa
Theo TCBS Research, nợ xấu toàn ngành ngân hàng đang có dấu hiệu tăng trong quý II/2026, nhưng chủ yếu chỉ xuất phát từ một vài trường hợp cá biệt.
Câu chuyện quý II/2026
Ngành ngân hàng đang trở thành tâm điểm, khi câu chuyện lãi suất chưa có nhiều dấu hiệu hạ nhiệt. Bên cạnh đó, chất lượng tài sản ngành ngân hàng cũng đang có sự phân hóa rõ rệt, theo báo cáo mới nhất của TCBS Research.
Cụ thể, nợ xấu toàn ngành tại thời điểm cuối quý II đã tăng 16,1% so với cùng kỳ. Dù vậy, chuyên gia của TCBS Research nhận định, mức tăng này mang tính cục bộ, khi riêng Sacombank đã chiếm tới 77,7% tổng mức tăng nợ xấu toàn hệ thống, xuất phát từ việc ngân hàng chủ động ghi nhận các khoản nợ tồn đọng lâu năm vào nợ nhóm 5.
Nếu tách riêng Sacombank, tỷ lệ nợ xấu của 26 ngân hàng niêm yết thực tế đã giảm từ mức 2,02% xuống 1,78%, với quy mô nợ xấu tăng nhẹ 3,8%.
Có tới 20 trên tổng số 27 ngân hàng ghi nhận tỷ lệ nợ xấu giảm. Những nhà băng có xu hướng quản trị rủi ro chặt chẽ như Vietcombank, ACB và Techcombank tiếp tục duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp, dưới 1,15% tổng dư nợ.

Số dư nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ngân hàng, theo TCBS Research. Ảnh: Việt Hưng
Dựa trên các chỉ số tài chính, TCBS Research chia 27 ngân hàng thành ba nhóm trạng thái. Nhóm có chất lượng tài sản cải thiện ghi nhận 9 đơn vị gồm: Vietcombank, Techcombank, ACB, VIB, Nam A Bank, ABBank, PG Bank, NCB và VietBank nhờ tích cực thu hồi nợ và làm sạch bảng cân đối.
Nhóm giữ trạng thái ổn định gồm 12 nhà băng là: VietinBank, MB, VPBank, TPBank, MSB, SHB, OCB... Ở chiều ngược lại, nhóm ghi nhận sự suy giảm gồm 6 ngân hàng là Sacombank, Eximbank, HDBank, SeABank, LPBank và BIDV do tỷ lệ nợ xấu tăng hoặc nợ nhóm 2 mở rộng.
Về bộ đệm dự phòng rủi ro, tỷ lệ bao phủ nợ xấu toàn hệ thống đạt 78,8% vào cuối quý II, giảm nhẹ 1,0 điểm phần trăm so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do tốc độ trích lập dự phòng toàn ngành (tăng 14,7%) thấp hơn mức tăng nợ xấu (16,1%).
Thống kê của TCBS Research cho thấy, sự chênh lệch đáng kể về mức độ trích lập giữa các nhóm. Trong khi 13 ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao hơn bình quân chỉ nắm giữ 37,1% tổng dự phòng rủi ro, thì các ngân hàng kiểm soát nợ xấu dưới 1,25% như Vietcombank, VietinBank, Techcombank hay ACB đều sở hữu tỷ lệ bao phủ nhiều so với mức trung bình ngành.
Ba rủi ro cho nửa cuối năm
Đối với triển vọng nửa cuối năm 2026, TCBS Research chỉ ra ba yếu tố rủi ro cần tiếp tục theo dõi để đánh giá đầy đủ "sức khỏe" của từng ngân hàng.
Yếu tố đầu tiên là xu hướng đi lên của nợ nhóm 2. Tỷ lệ nợ nhóm 2 của 27 ngân hàng đã tăng hai quý liên tiếp lên mức 1,38% vào cuối quý II.
Báo cáo ghi nhận 15/27 ngân hàng có nợ nhóm 2 cao hơn cùng kỳ năm trước, trong đó tăng đáng kể nhất là Saigonbank, Sacombank, PG Bank và VietBank. Vì các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày có khả năng chuyển nhóm nợ cao hơn, TCBS Research dự báo tỷ lệ nợ xấu toàn ngành có thể tăng nhẹ trong các quý tới khi các khoản nợ này được phân loại lại.
Yếu tố thứ hai nằm ở mối tương quan giữa nợ xấu mới hình thành và năng lực xử lý nợ bằng dự phòng. Trong 6 tháng đầu năm, khối lượng nợ xấu hình thành mới đạt hơn 104.000 tỷ đồng, gấp 1,8 lần lượng nợ được các ngân hàng xử lý bằng quỹ dự phòng.
Khoảng chênh lệch gần 47.000 tỷ đồng này khiến quy mô nợ xấu toàn ngành tăng lên 310.000 tỷ đồng. Theo TCBS Research, với những ngân hàng có tỷ lệ dự phòng đã trích lập dưới 60% nợ xấu, việc giảm tỷ lệ nợ xấu trong hai quý tới thông qua công cụ xử lý dự phòng sẽ cần thêm thời gian và phụ thuộc nhiều vào kết quả kinh doanh.

TCBS Research nhận thấy mức định giá cổ phiếu và chất lượng tài sản thực tế giữa các ngân hàng đang chưa tương xứng. Ảnh: Việt Hưng
Yếu tố thứ ba đến từ các khoản mục tín dụng nằm ngoài dư nợ cho vay truyền thống, đặc biệt là khoản lãi và phí phải thu. Số dư lãi và phí phải thu toàn ngành đạt 230.745 tỷ đồng, tương đương 1,50% dư nợ, tăng 36,1% so với cùng kỳ và cao gấp đôi tốc độ tăng trưởng tín dụng.
Lãi và phí phải thu (lãi dự thu) là phần lãi đã hạch toán vào thu nhập theo dự thu nhưng khách hàng chưa trả, trong khi khoản vay vẫn được xếp nhóm 1. Chỉ khi khoản vay chuyển sang nhóm 2 trở lên, ngân hàng mới thoái phần lãi này khỏi thu nhập.
Tại một số đơn vị quy mô vừa và nhỏ như VietABank, Bac A Bank, VietBank, MSB hay Nam A Bank, số dư này tương đương từ 87% đến 202% tổng thu nhập hoạt động 12 tháng gần nhất. TCBS Research lưu ý, hiện tượng này phản ánh một phần dư nợ nhóm 1 đang chậm trả lãi, điều mà tỷ lệ nợ xấu chưa thể hiện hết.
Ở góc độ thị trường, TCBS Research nhận thấy mức định giá cổ phiếu và chất lượng tài sản thực tế giữa các ngân hàng đang chưa tương xứng. Tính đến giữa tháng 9/2026, chỉ số giá trên giá trị sổ sách (P/B) trung vị của toàn ngành ở mức 1,17 lần.
Dữ liệu cho thấy thị trường đang chấp nhận trả mức định giá cao cho các ngân hàng có tỷ suất sinh lời tốt và câu chuyện riêng, song chưa phản ánh đầy đủ yếu tố rủi ro tài sản. Cả 6 ngân hàng có chất lượng tài sản suy giảm đều đang giao dịch ở mức P/B cao hơn trung vị ngành, như Sacombank ở mức 2,32 lần hay LPBank ở mức 3,24 lần.
Ở chiều ngược lại, nhóm ngân hàng có chất lượng tài sản và bộ đệm dự phòng ổn định như Vietcombank, Techcombank, ACB, MB và VietinBank đang giao dịch ở mức định giá phù hợp.



