Bức tranh đa chiều về vị thế của doanh nghiệp TP.HCM: Có đang 'hụt hơi'? (Bài 1)
TP.HCM đang sở hữu những nền tảng mà nhiều địa phương mơ ước. Thế nhưng, một nghịch lý là Thành phố đang thiếu vắng các doanh nghiệp quy mô lớn, chưa tạo được dấu ấn trong các bảng xếp hạng hàng đầu trong nước và khu vực.

Thiếu những doanh nghiệp dẫn dắt
Theo TS. Huỳnh Thế Du - Thành viên Viện Sáng kiến Việt Nam, nếu như hơn một thập niên trước, quy mô thị trường của các doanh nghiệp niêm yết tại TP.HCM chiếm trên 50% cả nước thì đến cuối năm 2025, con số này chỉ còn khoảng một phần ba. Ngược lại, Hà Nội đã vươn lên chiếm hơn một nửa giá trị thị trường. Trong nhóm 10 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam hiện nay, không có bất kỳ đại diện nào đến từ TP.HCM - nếu đặt trong tương quan Thành phố đang chiếm hơn 35% tổng số doanh nghiệp cả nước, nhiều hơn tổng của hàng loạt địa phương lớn cộng lại.
Việc TP.HCM mờ nhạt trong các bảng xếp hạng như Fortune Southeast Asia 500 cũng cho thấy khoảng cách không nhỏ so với các trung tâm kinh tế trong khu vực, thậm chí so với chính Hà Nội…Câu hỏi đặt ra là: Liệu TP.HCM có đang hụt hơi trong cuộc đua quy mô hay đây chỉ là biểu hiện của một sự chuyển dịch sâu hơn về cấu trúc kinh tế?
Theo TS. Đỗ Thiên Anh Tuấn - Giảng viên, Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright: Trong nhiều năm, TP.HCM từng là biểu tượng của tăng trưởng nhưng sau giai đoạn COVID-19, các chỉ số nền tảng bắt đầu cho thấy một xu hướng đáng suy nghĩ: Tốc độ tăng trưởng GRDP thấp hơn bình quân cả nước, tăng dân số chậm lại và tốc độ tăng đóng góp ngân sách cũng đã từng không còn nằm trong nhóm dẫn đầu.
Nếu không có những cải cách mạnh mẽ từ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thúc đẩy niêm yết, đến cải thiện môi trường chính sách và giảm chi phí vận hành thì khu vực tư nhân sẽ chỉ “chạy đều”, không thể bứt phá.
Nếu thành phố khơi dậy lại được tinh thần doanh nhân vốn có, đồng thời tạo ra những chính sách đủ táo bạo để nuôi dưỡng các doanh nghiệp lớn, thì TP.HCM vẫn có cơ hội quay lại vai trò đầu tàu.
Ông Tuấn cho rằng, đây không phải là những con số đơn lẻ mà phản ánh một vấn đề cấu trúc. Đó là sự chững lại của cộng đồng doanh nghiệp đặc biệt là khu vực tư nhân. Một nền kinh tế không thể duy trì vị thế dẫn đầu nếu thiếu những doanh nghiệp đủ lớn để tạo lực kéo, thiếu những thực thể có khả năng mở rộng quy mô, dẫn dắt thị trường và tạo hiệu ứng lan tỏa.
Lý do được ông Tuấn phân tích: TP.HCM dù năng động về kinh doanh lại yếu hơn ở “trục chính sách”. Điều này ảnh hưởng lớn khi doanh nghiệp bước vào giai đoạn cần mở rộng quy mô lớn.
Một yếu tố khác là TP.HCM có tỷ trọng dịch vụ rất cao, chiếm tới khoảng 65-67% GRDP. Đây là lĩnh vực có ưu điểm linh hoạt, quay vòng nhanh nhưng lại không đòi hỏi vốn lớn như công nghiệp nặng hay hạ tầng, dẫn đến hệ quả là phần lớn doanh nghiệp hình thành ở TP.HCM có quy mô nhỏ, vốn ít, lao động không nhiều. Số liệu đăng ký kinh doanh cho thấy quy mô vốn bình quân của một doanh nghiệp tại TP.HCM chỉ ở mức vài tỷ đồng - một con số rất nhỏ nếu so với yêu cầu để tạo ra các “đầu tàu”.
Chi phí cũng là một điểm nghẽn. TP.HCM từ lâu đã chịu áp lực chi phí rất cao từ mặt bằng, nhân công cho đến logistics. Tất cả những yếu tố này cộng lại dẫn đến một hệ quả là TP.HCM đang thiếu các “national champions” - những doanh nghiệp đủ tầm quốc gia để dẫn dắt.
Lý giải câu hỏi doanh nghiệp Thành phố có đang “hụt hơi”, ông Lê Phụng Hào - Chủ tịch Global AAA Consulting cho rằng, kinh tế TP.HCM đang trải qua một quá trình chuyển dịch mang tính lịch sử từ mô hình thâm dụng tài sản sang mô hình thâm dụng tri thức. Trong bối cảnh quỹ đất ngày càng hạn chế, chi phí mặt bằng và nhân công tăng cao, việc tiếp tục mở rộng theo chiều rộng trở nên khó khăn. Thay vào đó, doanh nghiệp Thành phố buộc phải tìm kiếm con đường tăng trưởng dựa trên công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo - những yếu tố không dễ đo đếm bằng các chỉ số quy mô truyền thống.
Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp tiêu biểu của TP.HCM hiện nay hoạt động theo mô hình “asset-light” - giảm thiểu tài sản hữu hình, tập trung vào tài sản vô hình như nền tảng công nghệ, hệ sinh thái người dùng, dữ liệu và thương hiệu. Những doanh nghiệp như vậy có thể không sở hữu hàng hecta đất hay các dự án công nghiệp quy mô lớn nhưng lại có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao, biên lợi nhuận tốt và khả năng thích ứng nhanh với biến động thị trường. Đây là kiểu phát triển phổ biến trong các nền kinh tế tiên tiến, nơi giá trị không còn nằm ở tài sản vật chất mà ở năng lực sáng tạo và quản trị.

Từ phân tích trên, có thể thấy, việc TP.HCM thiếu vắng các doanh nghiệp quy mô lớn chưa hẳn phản ánh sự suy yếu, mà có thể là dấu hiệu của một hướng đi khác. Điều này dẫn đến một “độ lệch” trong đánh giá, khiến các doanh nghiệp năng động nhưng “nhẹ tài sản” khó xuất hiện trong các bảng xếp hạng.
Dẫu vậy, không thể phủ nhận, mô hình thâm dụng tri thức giúp doanh nghiệp linh hoạt và hiệu quả, nhưng lại gặp khó trong việc mở rộng quy mô nhanh chóng nếu thiếu các điều kiện hỗ trợ phù hợp. Một trong những điểm nghẽn lớn nhất là hệ thống tài chính chưa theo kịp. Khi hơn 90% khoản vay vẫn yêu cầu tài sản thế chấp là bất động sản, các doanh nghiệp dựa trên công nghệ và tài sản trí tuệ gần như không có cửa tiếp cận vốn tín dụng truyền thống. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp dù có mô hình tốt, dòng tiền ổn định vẫn không thể bứt phá để trở thành những tập đoàn lớn.
TP.HCM: Đông doanh nghiệp, thiếu vắng “người khổng lồ”
Ông Đinh Hồng Kỳ - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Xanh TP.HCM, Phó Chủ tịch HUBA, Chủ tịch Công ty Secoin đặt vấn đề khác, dù công ty Secoin được thị trường mặc định là doanh nghiệp TP.HCM, nhưng về mặt pháp lý, doanh nghiệp lại được thành lập tại Hà Nội từ hơn ba thập niên trước và hiện nay hoạt động với hệ thống nhà máy trải dài trên nhiều tỉnh, thành. Từ đó, ông cho rằng, việc đặt vấn đề TP.HCM có hay không có doanh nghiệp trong top đầu Việt Nam nếu chỉ dựa trên tiêu chí “địa chỉ đăng ký” là chưa phản ánh đúng bản chất.
Tuy nhiên, ông cũng đồng quan điểm rằng, TP.HCM không thiếu doanh nghiệp, nhưng thiếu những doanh nghiệp đủ lớn để tạo ra ảnh hưởng lan tỏa, ông minh chứng: Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chỉ chiếm khoảng 5% số lượng doanh nghiệp, nhưng lại đóng góp tới 50% giá trị gia tăng và hơn 70% kim ngạch xuất khẩu. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp trong nước, chiếm tới hơn 90% về số lượng, lại chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ với năng lực tham gia chuỗi cung ứng và xuất khẩu còn hạn chế. Khoảng cách này phản ánh một thực tế rằng doanh nghiệp Việt Nam, kể cả ở TP.HCM - nơi được xem là năng động nhất, vẫn chưa thực sự làm chủ được các chuỗi giá trị. Tỷ lệ doanh nghiệp nội địa tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu còn thấp, khả năng xuất khẩu trực tiếp còn hạn chế. Điều này khiến cho số lượng doanh nghiệp dù nhiều, nhưng giá trị tạo ra và mức độ ảnh hưởng lại không tương xứng.
TP.HCM không thiếu doanh nghiệp, nhưng thiếu những doanh nghiệp đủ lớn để tạo ra ảnh hưởng lan tỏa
Một điểm nữa là năng lực mở rộng quy mô của doanh nghiệp Việt Nam đang gặp vấn đề. Không thiếu các startup, cũng không thiếu các doanh nghiệp đã tồn tại 20-30 năm, thậm chí lâu hơn, nhưng khả năng “lớn lên” của họ lại rất hạn chế. Phần lớn chỉ dừng lại ở quy mô vừa, thậm chí nhỏ, và hiếm khi bứt phá thành các tập đoàn lớn. Ngay cả những doanh nghiệp có nền tảng tốt cũng thường tăng trưởng chậm, thiếu động lực và điều kiện để mở rộng.
Nguyên nhân nổi bật nhất vẫn là các yếu tố chi phí và hạ tầng: Giá đất cao, chi phí logistics lớn, hạn chế về nguồn vốn và đặc biệt là sự yếu kém trong liên kết chuỗi giá trị. Doanh nghiệp Việt Nam vẫn hoạt động rời rạc, thiếu sự kết nối để tạo thành hệ sinh thái đủ mạnh.
Vấn đề cốt lõi, vì vậy, không còn là TP.HCM có bao nhiêu doanh nghiệp mà là có bao nhiêu doanh nghiệp đủ sức vươn ra khu vực và toàn cầu. Việc mở rộng không gian phát triển để hình thành một siêu đô thị kinh tế là một hướng đi cần thiết. Nhưng quan trọng hơn, phải tạo được điều kiện để doanh nghiệp trong hệ sinh thái đó lớn lên, chứ không chỉ dừng lại ở mức năng động.












