Bức tranh màu nhớ

HNN - Thường là những ngày nghỉ trong tuần cuối của mỗi tháng, tôi thu xếp công việc để về quê, ở lại nhà mẹ một đêm và chắc chắn sẽ có một buổi ở nhà nội.

Cũng khung cảnh đó. Một bức tranh khổng lồ. Bức tranh không có đường chân trời rõ ràng - chỉ là một đường mờ nơi cuối trời chạm nhẹ vào đồng lúa mênh mông. Gió đang thổi hiu hiu. Những bông lúa cúi đầu đang dần chuyển từ xanh đậm sang màu vàng nhẹ. Ồ, mới đó đồng đã sắp vào mùa gặt rồi. Bức tranh đồng quê đã kéo tôi về tuổi thơ, về những ngày được nghịch rơm, lí lắc đủ trò ở khu vườn mát xanh nhà nội.

Nhà nội tôi nằm giữa bức tranh mà tôi vừa tả ở trên. Nhà nhỏ nhưng vườn rộng. Bên phải và sau lưng là hàng tre. Một ngôi nhà gỗ, có nhà trên nhà dưới. Tôi còn nhớ nhà trên lợp tranh, nhà dưới lợp lá dừa. Nội bảo là nhà cũ của ông bà cố để lại, đương nhiên mái tranh không thể “thi gan cùng tuế nguyệt” nên nội đã vá víu, sửa sang nhiều lần, nhưng cái dáng xưa cũ thì vẫn còn nguyên đó. Lạ thật, càng sửa, ngôi nhà lại càng cũ đi theo một cách rất riêng - cái cũ của ký ức, không phải của thời gian.

Lại nói, nhà nội nằm trơ trọi giữa đồng. Nhưng không có hàng rào. Trơ trọi nhưng không cô đơn, vì ngôi nhà luôn có tình thương, cổng luôn mở đợi chờ. Và hiện giờ, bà nội đang đợi thằng cháu đích tôn về. Tôi biết chắc điều đó nên không về nhà mẹ trước như mọi lần mà đi thẳng ra nhà nội. Từ đằng xa, khi còn chạy chậm trên bờ ruộng to nay đã được bê tông hóa, tôi đã thấy nội ngồi trước hiên nhà, chiếc chõng tre đã thay bằng chiếc võng. Nội ngồi, ánh sáng chiếu vào. Thứ ánh sáng của chiều tháng Tư. Vàng rực và gợi ký ức.

Không phải bây giờ mà từ hồi nhỏ, tôi hay đòi ra nhà nội. Không phải vì ở đó có cao lương mỹ vị hay những trò chơi độc đáo gì, mà vì nó giống một ngôi nhà trong truyện cổ tích. Hệt cổ tích. Xóm tôi cũng nghèo, nhưng nhà nào cũng xây gạch, san sát nhau. Chỉ có nhà nội là có một không hai.

Để đến được ngôi nhà “có một không hai đó”. Từ nhà tôi phải đi một đoạn đường lộ, rồi men theo mấy cái bờ lô dài, quẹo xuống một bờ ruộng lớn mới tới. Tôi không nhớ nổi khi ấy mình bao nhiêu tuổi, Nhưng xin thề, tôi nhớ rất rõ cái cảm giác gió mát rười rượi luồn qua những hàng tre. Cái mát đó, đến giờ nghĩ lại vẫn như còn chạm vào da.

Tôi mê khu vườn của nội. Màu xanh được bao bọc bởi màu xanh. Ngoài rìa là hàng dừa, bên trong là ổi, chùm ruột, mận. Một khoảnh đất trống nội trồng bắp, trồng khoai lang. Ra nhà nội, tôi được đi một đoạn đường dài như một chuyến phiêu lưu, được ăn no mà không bị kiêng khem, được nghe kể chuyện trong làn gió hiu hiu, rồi ngủ quên lúc nào không hay.

Sau này nghĩ lại, tôi mới hiểu: Có những điều khi còn nhỏ mình tưởng là bình thường, nhưng thật ra là một may mắn. Đó là một tuổi thơ thần thánh mà không phải đứa trẻ nào cũng may mắn có.

***

Tôi thường nằm trên chiếc chõng tre để ngay hè của nhà dưới, bà nội vừa nấu cơm vừa kể chuyện cho cháu nghe. Không phải thần thoại, cổ tích mà nội kể chuyện đời mình.

Chuyện một người đàn bà mồ côi từ nhỏ. Lấy chồng chưa bao lâu thì chồng đi chiến khu. “Thân đàn bà, nhớ chồng cũng không có thì giờ mà nhớ”, nội nói vậy, như nói một điều hiển nhiên. Ban ngày lo ruộng vườn, tối đến ôm con ngủ. Nghe tiếng bom là giật mình, lấy thân mình che con.

Nội kể chuyện đó không có nước mắt. Nhưng càng không có, tôi lại càng thấy nghèn nghẹn. Bà nội tổng cộng năm lần sinh nở. Thời đó cơ cực và nguy hiểm luôn cận kề nhưng các cậu, dì của tôi đều được đi học trường làng. Dứt cấp hai, bà nội tìm mọi cách đưa con đến khu tản cư ngoài thị trấn để học cấp ba, và sau nữa. Nói chung, với bà nội, chỉ có chữ nghĩa mới giúp các con trở nên tốt hơn nên bà ôm khổ một mình để các con được mở mang đầu óc. Đó là một nhân cách mẹ vĩ đại. Nên với các cậu, dì của tôi, bà nội là người hùng.

Ông nội thì ít kể chuyện hơn. Ông một thời trận mạc, có những vết thương đã thành sẹo to trên người nhưng không nói về những lần băng rừng trúng đạn. Ông chỉ ca ngợi bà nội như một chỗ dựa vững chắc của hậu phương để ông vững tâm làm nhiệm vụ nơi chiến tuyến.

Chỉ duy một chuyện, khi đó, tôi đã biết đến ngày quốc lễ của tháng Tư nên mới hỏi ngày đó nội làm gì, ở đâu thì ông chậm rãi kể như người ta đang phát lại một đoạn phim cũ được quay chậm.

Lúc đó ông bị bắt sau một trận càn, rồi họ đem ông về giam trong một căn phòng xi măng lạnh buốt. Những ngày đầu tháng Tư, ở trong bốn bức vách nhưng trong ông luôn có cảm giác không khí bên ngoài bỗng trở nên khác lạ. Tiếng súng có vẻ ngập ngừng, có lúc nổ từng tràng dài, rồi có khi im bặt. Dồn dập xối xả rồi lưa thưa, đứt quãng, liên tục mấy ngày hai trạng thái đó cứ đan xen nhau. Ông mơ hồ linh tính rằng đang có điều gì đó lưng chừng, vừa ngưng đọng, vừa ráo riết. Rõ ràng, bên ngoài nhà giam, nơi mặt trời vẫn lên cao chiếu sáng mỗi ngày đang có dấu hiệu cho một cuộc thay đổi lớn lao nào đó, nó đã đến rất gần rồi.

- Ông có biết là sắp giải phóng không? - tôi hỏi.

Ông lắc đầu:

- Không. Chỉ biết là sắp có chuyện lớn.

- Lúc đó ông có sợ không?

Ông cười, hiền:

- Ai mà không sợ.

- Nếu sợ sao nội dám đi đánh giặc?

- Người lính xem cái chết nhẹ hơn nhiệm vụ, nhưng không ai muốn chết, nhất là khi việc mình chưa xong.

Đang kể, ông bỗng nhìn xa về phía chân trời giáp với cánh đồng bạt ngàn trước cổng như nhìn về ký ức còn vẹn nguyên, giọng nội chầm chậm, đều đều: Đêm đó, một cơn mưa ập xuống rồi tạnh đột ngột. Không gian im lặng đến rợn người. Ông nằm co ro, cố ép mình ngủ mà không được. Bỗng có tiếng đập cửa dồn dập.

- Có ai trong này không?

Ông và hai người cùng phòng giật mình, lùi sát vào vách. Trong đầu chỉ nghĩ: Chắc sẽ bị đối phương dẫn đi đâu đó… hoặc tệ hơn.

Rồi cửa bất ngờ bật mở. Ánh đèn pin loang loáng.

Một người đàn ông trẻ hơn ông nội rất nhiều, giọng khàn rè nhưng dứt khoát:

- Giải phóng rồi. Mấy chú, mấy anh ra đi!

Chỉ một câu ngắn gọn. “Giải phóng rồi” - câu nói gọn gàng như muốn bằng cách nhanh nhất thông báo điều trọng đại đến người nghe.

Không ai tin ngay, vì câu đó được nói ra từ người bên kia chiến tuyến. Cho đến khi người đàn ông dặn dò họ cần đến đâu rồi vội vã rời đi.

Mọi người lục tục bước ra ngoài. Ánh nắng hôm đó trong veo đến lạ

- Ông và đồng đội của mình đã mừng rỡ thét to hả, nội?

- Không, lúc ấy không thét lên được. Mừng đến mức cứ tưởng mình đang mơ.

***

Chiến tranh lùi xa.

Nhà nội vẫn nằm giữa đồng. Gió vẫn thổi qua hàng tre. Chỉ có người trong ngôi nhà đó là ít dần.

Ông nội mất trước, năm tôi đang là sinh viên. Ông ra đi đúng ngày thi nên tôi không kịp về nhìn ông lần cuối. Đó là lý do bây giờ, tôi thường thu xếp tạt qua thăm bà nội vì biết cuộc đời vô thường, biết đâu rồi lại không kịp nhìn nội lần cuối. Bây giờ, bà nội đã gần chín mươi rồi. Bà ngó chừng cái chết, hay tự nói “người ta chết tở mở còn mình sao sống dai dữ”. Tôi la, nói bà nội phải sống hơn một trăm tuổi để cưng chắt nữa, thì nội lại bảo: “Ổng chờ nội lâu quá rồi, tội”.

Trời ơi, cái mong ước đoàn tụ cùng chồng ở thế giới bên kia được nội nói ra một cách nhẹ như không, nhưng thằng cháu tôi nghe không khỏi xót xa. Những ngày ở chặng cuối đường đời, trí nhớ nội rất được chăng hay chớ. Có lúc không nhớ tôi là thằng cháu đích tôn được cưng số một luôn.

Nhưng có một người, nội chưa bao giờ quên.

Mỗi khi có mưa, nội lại nhìn ra cánh đồng, nói khẽ: - Anh! Thằng Việt, Nam, con Hạnh, con Phúc đều lớn cả rồi. Học giỏi nữa. Chừng nào anh về?

Tôi biết nội đang nói chuyện với ông nội. Nghe mà thương nghẹn trong lòng.

Nắng tháng Tư vẫn cứ rạng rỡ, đẹp vô cùng.

Nguyễn Thị Bích Nhàn

Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/van-hoa-nghe-thuat/tac-gia-tac-pham/buc-tranh-mau-nho-165617.html