Các anh luôn sống mãi trong lòng Nhân dân, đồng đội

HNN - Bên cạnh đó mùa mưa đã đến, đặc biệt do tác động của chất gây mưa do Mỹ thả xuống nên mùa mưa năm 1972 ở Trị Thiên đến sớm và cực kỳ dữ dội.

Viếng Nghĩa trang Liệt sĩ A Lưới 2. Ảnh: Châu Lê 

Viếng Nghĩa trang Liệt sĩ A Lưới 2. Ảnh: Châu Lê 

Những liệt sĩ đầu tiên của đơn vị

Khoảng cách từ khu vực tập kết ở Quảng Bình vào A Lưới nếu theo đường chim bay chỉ hơn 200km, song trên thực tế hai đơn vị này phải cơ động hơn 400km vì phải vượt Trường Sơn sang Lào, đi dọc cao nguyên nam Lào đến ngang với A Lưới thì lại vượt Trường Sơn lần nữa để về Việt Nam. Tất cả những con đường đó đều là đường quân sự làm gấp, hết sức hiểm trở.

Không chỉ đèo cao, vực thẳm, đường sá khó đi mà cuộc hành quân của họ còn thường xuyên bị không quân Mỹ ngăn chặn quyết liệt. Ban ngày thì OV-10 săm soi từ sáng đến sẩm tối, nghi ngờ chỗ nào thì chúng gọi phản lực đến oanh tạc ngay. Ban đêm thì AC-130 cần mẫn “tuần đường”, sẵn sàng đốt cháy “con mồi” với hàng chục tấn đạn trên khoang. Bên cạnh đó là hàng loạt các loại thiết bị thu tiếng động, thu âm thanh, hồng ngoại… ném xuống dọc các con đường để thám thính từng vòng xích lăn. Mặc dù đã cảnh giác cao độ, thực hiện đầy đủ các quy định về phòng gian, giữ bí mật song các chiến sĩ xe tăng cũng đã phải gánh chịu nhiều trận đánh phá ác liệt của địch và cũng đã có những tổn thất nhất định.

Sáng sớm ngày 7/5/1972, khi Đại đội XT 4 đang tạm dừng nghỉ ngắn ở phía nam sân bay A Lưới (thuộc địa phận thôn Vinh Lợi, xã A Lưới 3 hiện nay) thì bị bom B52 rải thảm trúng đội hình. Xe tăng số 388 bị hất tung lên như một thứ đồ chơi rồi rơi xuống nằm ngửa bụng lên trời. Bốn chiến sĩ Nguyễn Minh Luyến, Lê Mạnh Hùng, Vũ Ngọc Kiểm, Lê Khả Mai nằm dưới bụng xe bị hy sinh tại chỗ. Đó là những liệt sĩ đầu tiên của đơn vị.

Sau khi mai táng các liệt sĩ, Đại đội XT 4 tiếp tục cơ động vào đường 12 (nay là Quốc lộ 49) để sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đánh xuống Huế. Ngay đêm đó, họ lại bị AC - 130 ngăn chặn. Tuy không gây được thiệt hại nào cho xe tăng song cũng làm đơn vị phải dừng chân tránh trú, rồi cứu kéo nhau phát sinh tai nạn làm lái xe Triệu Hồng Lạc hy sinh.

Không bắn cháy được xe tăng, không quân Mỹ rải hàng nghìn quả bom vướng nổ nhằm “phong tỏa” con đường 12. Loại bom này chỉ nhỏ như quả bom bi, song khi chạm đất sẽ tung ra 4 phía 4 sợi dây mảnh như tơ nhện. Bất cứ vật gì chuyển động chạm vào 1 trong 4 sợi tơ đó sẽ kích nổ quả bom. Loại vũ khí “sát thủ thầm lặng” này đã lấy đi mạng sống của pháo thủ Đỗ Chí Tình và lái xe Nguyễn Văn Lược khi các anh ra ngoài ngụy trang xe.

Đại đội XT 3 khởi hành sau đó ít ngày. Đêm 15/5/1972, khi đang ở khu vực động Con Tiên (Lào), cách biên giới Lào - Việt khoảng 30km thì cũng bị AC - 130 ngăn chặn. Cuộc bắn phá kéo dài gần 30 phút đã làm lái xe Nguyễn Xuân Cửu hy sinh. Còn Đại đội trưởng Lê Minh Đô cùng vài đồng chí nữa bị thương. Rất may là xe không bị cháy.

Thời điểm này ta đã giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị. Sợ mất luôn Thừa Thiên, địch tung cả hai sư đoàn trù bị (Sư đoàn Dù và Sư đoàn Thủy quân lục chiến) ra phản công. Cộng với sự yểm trợ mạnh mẽ của không quân, pháo hạm của Mỹ, quân đội Sài Gòn đã đẩy Quân giải phóng về phía bắc sông Thạch Hãn. Cuộc chiến trên chiến trường Quảng Trị trở về thế giằng co.

Nhiệm vụ tiến công phải gác lại

 Trước tình hình đó, cộng với mùa mưa bắt đầu làm đường 12 sạt lở nhiều nên nhiệm vụ tiến công Huế phải gác lại. Tiểu đoàn xe tăng 408 trực thuộc Quân khu Trị - Thiên (do hai Đại đội xe tăng 3 và 4 sáp nhập lại) được lệnh tổ chức trú quân trên địa bàn A Lưới, có nhiệm vụ bảo toàn lực lượng và sẵn sàng chiến đấu khi có lệnh. Trong đó, Đại đội XT 3 tổ chức trú quân, xây dựng hậu cứ ở km 108 đường 14B (khu vực xã A Lưới 4 hiện nay). Còn Đại đội XT4 trú quân hai bên ngầm sông Bồ (khu vực xã A Lưới 5 hiện nay).

Mặc dù không phải đánh xuống Huế như kế hoạch ban đầu, song cuộc sống ở hậu cứ những năm tháng đó cũng không dễ dàng gì. Các chiến sĩ xe tăng vẫn phải nêu cao cảnh giác, giữ gìn bí mật trước các phương tiện trinh sát hiện đại của địch, nhất là Đại đội XT 4 vì có lúc địch nống ra, khoảng cách giữa hai bên chỉ còn 3 - 4km.

Bên cạnh đó mùa mưa đã đến, đặc biệt do tác động của chất gây mưa do Mỹ thả xuống nên mùa mưa năm 1972 ở Trị Thiên đến sớm và cực kỳ dữ dội. Tất cả sông suối đều dâng cao ngăn trở mọi con đường tiếp vận của quân ta làm cho đời sống bộ đội vô cùng thiếu thốn. Mùa mưa cũng làm điều kiện sinh hoạt của bộ đội khó khăn hơn, muỗi vắt phát triển hơn nên phát sinh nhiều bệnh tật, nhất là sốt rét. Có thời điểm gần như 100% quân số dính sốt rét. Và một cơn sốt rét ác tính đã quật ngã pháo thủ Phạm Văn Chính của Đại đội XT 4.

Về mùa mưa, quy luật đánh phá của địch cũng thay đổi như bộ đội ta đã tổng kết: “Nắng bổ nhào, mưa rào tọa độ”. Hôm nào tạnh ráo, có chút ánh mặt trời thì chủ yếu là bọn phản lực F-4 hoặc A-37 hoạt động. Còn những hôm mưa rả rích thì chủ yếu là chúng ném bom tọa độ, từ B-52 đến B-57 và cả phản lực. Kiểu đánh này rất nguy hiểm vì rất bất ngờ, không biết đằng nào mà phòng bị cả. Cũng may, đã có một vài đợt tọa độ sượt qua vị trí trú quân cả hai đại đội song không có tổn thất về người.

Riêng bên Đại đội XT 4, do khoảng cách tới địch rất gần nên ngoài bom tọa độ còn thêm món pháo tọa độ từ Động Tranh, Bình Điền bắn tới nữa. Chính những loạt pháo bất thần tưởng như vu vơ này đã cướp đi mạng sống của lái xe Tạ Văn Hạnh và làm một số đồng chí khác bị thương.

Điều vô cùng đau xót là khu vực mai táng 4 liệt sĩ của xe 388 sau đó đã bị máy bay địch đánh phá ác liệt nhiều lần. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, đơn vị chuyển về trú quân tại khu vực Hồng Bắc (nay là xã A Lưới 2), anh em đã đi tìm song không thấy. Năm 2016, đơn vị đã vào làm việc với bà con xóm 2, Vinh Lợi, xã Sơn Thủy (nay là A Lưới 3) và được bà con giúp đỡ, đồng ý đưa hương linh các liệt sĩ vào nhà thờ của xóm để hương khói lâu dài.

Còn các liệt sĩ khác do được mai táng tại các nghĩa trang của đội phẫu thuật hoặc đội điều trị, có sơ đồ mộ chí đàng hoàng nên tuy không thấy dấu vết vẫn hy vọng các anh đã được quy tập vào các nghĩa trang liệt sĩ hoặc đã được đưa về quê nhà. Song dù ở nơi đâu thì các anh vẫn sống mãi trong lòng đồng đội, người thân và Nhân dân các dân tộc trên mảnh đất A Lưới thân thương, tình nghĩa này.

Tháng 3/1972, khi cuộc Tổng tiến công chiến lược Xuân - Hè 1972 chuẩn bị bắt đầu thì hai đại đội xe tăng: Đại đội 4 thuộc Trung đoàn 203 và Đại đội 3 thuộc Trung đoàn 202 nhận lệnh độc lập hành quân vào địa bàn A Lưới để sẵn sàng làm mũi vu hồi đánh xuống thành phố Huế nhằm giải phóng Trị - Thiên ngay trong mùa khô 1972 nếu có thời cơ.

Nguyễn Khắc Nguyệt

Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/chinh-tri-xa-hoi/cac-anh-luon-song-mai-trong-long-nhan-dan-dong-doi-169393.html