Các Đại sứ hiến kế để địa phương không bỏ lỡ dòng vốn FDI

Để tận dụng hiệu quả các cơ hội hợp tác quốc tế, theo các Đại sứ Việt Nam, các địa phương cần chủ động nâng cao năng lực thu hút đầu tư, chuẩn bị nguồn lực và đổi mới cách thức triển khai công tác đối ngoại.

Quan hệ giữa Việt Nam với các đối tác lớn đang bước vào giai đoạn phát triển mới, mở ra nhiều dư địa hợp tác về đầu tư, công nghệ, thương mại và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, theo các Đại sứ Việt Nam tại Mỹ và Trung Quốc, cơ hội chỉ có thể trở thành kết quả cụ thể khi địa phương đóng vai trò chủ động trong việc chuẩn bị điều kiện, kết nối đối tác và hiện thực hóa các cam kết hợp tác.

Việt Nam có những yếu tố phù hợp với xu hướng đầu tư của doanh nghiệp Mỹ

Phát biểu tại Hội nghị Ngoại vụ toàn quốc lần thứ 22 chiều 2/8, Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Nguyễn Quốc Dũng nhận định quan hệ Việt Nam – Mỹ đang đứng trước cơ hội phát triển mạnh mẽ nhất kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ năm 1995. Theo Đại sứ, việc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện vào tháng 9/2023 không chỉ mang ý nghĩa chính trị mà còn mở ra khuôn khổ hợp tác kinh tế, đầu tư và công nghệ chưa từng có.

Tuy nhiên, Đại sứ nhìn nhận rằng khuôn khổ này sẽ chỉ thực sự tạo ra giá trị khi được hiện thực hóa bằng các dự án đầu tư, các chuỗi cung ứng mới và các trung tâm đổi mới sáng tạo ngay tại các địa phương của Việt Nam.

Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Nguyễn Quốc Dũng phát biểu. Ảnh: Đỗ Thảo - Mekong ASEAN

Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Nguyễn Quốc Dũng phát biểu. Ảnh: Đỗ Thảo - Mekong ASEAN

Đại sứ Nguyễn Quốc Dũng cho biết, trong những năm gần đây, mặc dù chính sách thương mại của Mỹ có nhiều điều chỉnh, Việt Nam vẫn được nhìn nhận là đối tác quan trọng tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Hai bên tiếp tục duy trì đối thoại cấp cao thường xuyên và mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), năng lượng, khoáng sản chiến lược, kinh tế số và đổi mới sáng tạo.

Cùng với đó, cách nhìn của các doanh nghiệp Mỹ về Việt Nam cũng đang thay đổi. Việt Nam không còn chỉ được xem là điểm đến có chi phí cạnh tranh, mà ngày càng được quan tâm như một địa điểm xây dựng cơ sở sản xuất, trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), trung tâm thiết kế, trung tâm dữ liệu và chuỗi cung ứng công nghệ cao. Đây là dòng vốn có giá trị gia tăng lớn, tạo nhiều việc làm chất lượng cao và thúc đẩy chuyển giao công nghệ.

Bên cạnh những cơ hội từ quan hệ song phương, Việt Nam cũng đang bước vào giai đoạn cải cách mạnh mẽ với việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu quả và định hướng tăng trưởng dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và khu vực kinh tế tư nhân. Theo Đại sứ, đây là những yếu tố phù hợp với xu hướng đầu tư của doanh nghiệp Mỹ.

Tuy nhiên, Đại sứ Nguyễn Quốc Dũng cho rằng cơ hội luôn đi cùng thách thức. Qua thực tế làm việc với nhiều doanh nghiệp Mỹ, Đại sứ cho biết quyết định đầu tư hiện nay không còn phụ thuộc chủ yếu vào ưu đãi thuế mà dựa trên chất lượng nguồn nhân lực, tính ổn định và minh bạch của chính sách, khả năng đáp ứng về điện, logistics, hạ tầng số, thời gian giải quyết thủ tục hành chính và khả năng đồng hành của chính quyền địa phương trong suốt vòng đời dự án.

Đại sứ chỉ ra rằng, một số địa phương vẫn còn cách tiếp cận thụ động, chủ yếu chờ doanh nghiệp đến khảo sát thay vì chủ động tiếp cận các tập đoàn mục tiêu, xây dựng danh mục dự án và phát triển đội ngũ chuyên trách hỗ trợ nhà đầu tư.

Trong khi đó, các bang của Mỹ ngày càng tích cực thúc đẩy hợp tác quốc tế thông qua các cơ quan phát triển kinh tế, trường đại học, trung tâm đổi mới sáng tạo và hiệp hội doanh nghiệp – những đối tác mà các địa phương Việt Nam hoàn toàn có thể kết nối trực tiếp.

Chủ động đón đầu, xác định đúng "điểm rơi" của dòng vốn Mỹ

Từ thực tiễn này, Đại sứ Nguyễn Quốc Dũng cho rằng các địa phương cần chuyển từ tư duy "thu hút càng nhiều vốn càng tốt" sang thu hút đúng nhà đầu tư, đúng lĩnh vực và đúng hệ sinh thái, xác định đúng "điểm rơi" của dòng vốn Mỹ; chủ động xây dựng danh mục các tập đoàn mục tiêu và các dự án "sẵn sàng triển khai"; nâng cao năng lực các đầu mối hỗ trợ nhà đầu tư theo mô hình "đồng hành trọn vòng đời dự án".

Cùng với đó, các địa phương cần chủ động xây dựng quan hệ hợp tác với các bang của Mỹ có thế mạnh phù hợp. Chẳng hạn: bang Oregon về công nghệ xanh và nông nghiệp; Texas về năng lượng; California về đổi mới sáng tạo, AI và bán dẫn; Washington về hàng không, logistics và công nghệ; Maryland về công nghệ sinh học; Arizona về bán dẫn. Việc kết nối theo lợi thế bổ trợ sẽ mang lại hiệu quả cao hơn rất nhiều so với các hoạt động xúc tiến dàn trải.

Đại sứ cũng nhấn mạnh vai trò của nguồn nhân lực, tiêu chuẩn quốc tế và ngoại giao kinh tế trong cuộc cạnh tranh thu hút FDI chất lượng cao. Theo đó, các địa phương cần gắn xúc tiến đầu tư với đào tạo nhân lực, liên kết đại học - doanh nghiệp, phát triển trung tâm đổi mới sáng tạo; xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, có khả năng đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn ESG, an ninh dữ liệu, truy xuất nguồn gốc và tính tuân thủ.

"Trong cuộc cạnh tranh thu hút FDI chất lượng cao, các địa phương của Việt Nam cần đi trước một bước, đó là chuẩn bị hạ tầng, chuẩn bị thể chế, chuẩn bị nhân lực và chuẩn bị dự án. Nếu làm được điều đó, chúng ta không chỉ đón vốn Mỹ, mà còn đón được công nghệ, quản trị và chuỗi giá trị mới, qua đó nâng cao chất tăng trưởng của địa phương và của cả nền kinh tế,” Đại sứ Nguyễn Quốc Dũng phát biểu.

Lấp khoảng trống năng lực để đưa các thỏa thuận hợp tác thành kết quả thực chất

Không chỉ với Mỹ, yêu cầu nâng cao năng lực triển khai cũng được đặt ra đối với hoạt động hợp tác với các đối tác khác. Chia sẻ tại phiên thảo luận của hội nghị, Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Phạm Thanh Bình cho rằng, khi quan hệ Việt Nam - Trung Quốc bước vào giai đoạn phát triển với mức độ gắn kết ngày càng thực chất trên nhiều lĩnh vực, địa phương chính là chủ thể quan trọng nhất trong việc chuyển hóa nhận thức cấp cao thành các dự án hợp tác cụ thể.

Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Phạm Thanh Bình phát biểu. Ảnh: Đỗ Thảo - Mekong ASEAN

Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Phạm Thanh Bình phát biểu. Ảnh: Đỗ Thảo - Mekong ASEAN

Theo Đại sứ, hiệu quả đối ngoại hiện nay cần được cân, đo, đong, đếm bằng nguồn vốn thu hút đầu tư, thị trường được mở rộng và các cam kết được hiện thực hóa.

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai công tác đối ngoại địa phương cũng cho thấy còn những khoảng trống về năng lực cần được khắc phục. Theo Đại sứ Phạm Thanh Bình, một trong những hạn chế hiện nay là năng lực ngoại ngữ và kiến thức chuyên ngành về kinh tế, thương mại, chuỗi cung ứng của một bộ phận cán bộ còn chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là tại những địa bàn có quan hệ hợp tác sâu rộng như Trung Quốc, nơi mỗi tỉnh, thành đều có đặc điểm phát triển, quy hoạch và ưu tiên hợp tác khác nhau.

Bên cạnh đó, năng lực phân tích chính sách và dự báo cũng cần được nâng cao để theo kịp những điều chỉnh nhanh chóng của Trung Quốc trong các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến Việt Nam như xuất nhập khẩu, logistics, chuyển đổi xanh và tiêu chuẩn kỹ thuật. Đại sứ cũng chỉ ra rằng, ở một số nơi, các thỏa thuận sau khi ký kết chưa được cụ thể hóa thành chương trình hành động, khiến hiệu quả hợp tác chưa tương xứng với tiềm năng.

Để khắc phục những hạn chế này, Đại sứ Phạm Thanh Bình đề xuất chuẩn hóa vai trò của cơ quan ngoại vụ địa phương theo hướng trở thành đầu mối tham mưu chiến lược trong triển khai công tác đối ngoại; chuẩn hóa khung năng lực cán bộ đối ngoại với yêu cầu kết hợp giữa năng lực đối ngoại và kiến thức về kinh tế quốc tế, thương mại, đầu tư; đồng thời chuẩn hóa cơ chế phối hợp giữa địa phương, Bộ Ngoại giao và các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.

Quang cảnh phiên thảo luận tại Hội nghị Ngoại vụ toàn quốc lần thứ 22, chiều 2/8. Ảnh: Đỗ Thảo - Mekong ASEAN

Quang cảnh phiên thảo luận tại Hội nghị Ngoại vụ toàn quốc lần thứ 22, chiều 2/8. Ảnh: Đỗ Thảo - Mekong ASEAN

Đại sứ cũng cho biết, nhằm hỗ trợ các địa phương nắm bắt tốt hơn thị trường Trung Quốc, Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc phát hành Bản tin Kinh tế - Thương mại định kỳ, từ giữa tháng 7/2026 chuyển từ phát hành hằng tháng sang hằng tuần, cung cấp thông tin cập nhật về tình hình kinh tế - xã hội, chính sách mới, triển lãm, hội chợ và nhu cầu hợp tác của các đối tác Trung Quốc.

Một yêu cầu quan trọng khác là chuẩn hóa cơ chế phối hợp giữa địa phương, Bộ Ngoại giao và các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Theo Đại sứ Phạm Thanh Bình, sự phối hợp cần được thực hiện xuyên suốt từ khâu chuẩn bị nội dung, kết nối đối tác trước các chuyến công tác, hoạt động đối ngoại đến việc theo dõi, hỗ trợ triển khai sau khi các thỏa thuận được ký kết.

Đề cập yêu cầu đổi mới cách thức đánh giá hiệu quả công tác đối ngoại, Đại sứ cho rằng cần chuyển từ đánh giá bằng số lượng hoạt động sang những kết quả cụ thể trong thu hút đầu tư, mở rộng thị trường và thúc đẩy phát triển địa phương.

“Chỉ khi đó, đối ngoại địa phương mới thực sự chuyển từ ‘thiết lập quan hệ’ sang ‘tạo ra kết quả hợp tác thực chất’,” Đại sứ Phạm Thanh Bình nói.

Đỗ Thảo

Nguồn Mekong Asean: https://mekongasean.vn/cac-dai-su-hien-ke-de-dia-phuong-khong-bo-lo-dong-von-fdi-58013.html