Bộ Chính trị ban hành 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ đổi mới mô hình phát triển Việt Nam
Bộ Chính trị ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể
Bộ Chính trị ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể

Hội nghị Trung ương 3, Khóa XIV bế mạc - Ảnh: TTXVN
40 chỉ tiêu được xác định theo từng giai đoạn (đến 2030, đến 2035 và đến 2045) với các chỉ số định lượng và định tính rõ ràng cùng với 51 nhiệm vụ, giải pháp quan trọng theo khung quản trị (đơn vị chủ trì, phối hợp, thời gian thực hiện/ hoàn thiện, nguồn lực và kết quả đầu ra). Đây là cơ sở để thực hiện hoạt động theo dõi, đo lường và đánh giá quá trình thực thi Nghị quyết.
Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Đây là lần đầu tiên Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển đất nước. Nghị quyết đã kế thừa và phát triển những nội dung cốt lõi của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, các nghị quyết liên quan; gắn kết, khâu nối các đột phá của các nghị quyết chiến lược thành một chỉnh thể thống nhất, định hình khung khổ tổng thể để các nghị quyết chuyên đề vận hành đồng bộ, liên thông, cộng hưởng sức mạnh.
Nghị quyết có ý nghĩa chiến lược, tạo cơ sở chính trị đổi mới tư duy phát triển, thống nhất nhận thức và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, huy động và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực, tạo động lực phát triển nhanh, bền vững, hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045; xác lập nền tảng cho tầm nhìn 100 năm phát triển tiếp theo của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng (2030 - 2130). Nghị quyết đã xác lập mục tiêu đến năm 2030, năm 2035, năm 2045 và định hướng tầm nhìn đến năm 2130.
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Các chỉ tiêu chủ yếu về đổi mới mô hình phát triển đất nước đến năm 2030, năm 2035 và năm 2045 được cấu trúc theo bảy (07) nhóm chỉ tiêu chính, trong đó:
Nhóm chỉ tiêu về thể chế, quản trị quốc gia và hoàn thiện hệ thống chính trị đặt ra 04 chỉ tiêu chính: xếp hạng về phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số; Xếp hạng môi trường đầu tư của Việt Nam; Chỉ số sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS); và Tỉ lệ các bộ, ngành Trung ương, địa phương sử dụng nền tảng số phục vụ điều hành theo mức độ trưởng thành về quản trị dữ liệu. Đáng chú ý là mục tiêu đề ra phải đạt được khoảng 95% các bộ ngành trung ương, địa phương đạt cấp độ 5 mức độ trưởng thành về sử dụng và quản trị dữ liệu số phục vụ điều hành. Giá trị trung bình cả nước về chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước cũng cần đạt được khoảng 90% trong giai đoạn 2031-2035.
Nhóm chỉ tiêu về kinh tế có 14 chỉ tiêu, gồm tốc độ tăng trưởng GDP bình quân/năm (%); GDP bình quân đầu người (USD), tỷ trọng đóng góp năng suất các nhân tốc tổng hợp (TFP) vào tốc độ tăng trưởng GDP (%); tốc độ tăng năng suất lao động bình quân (%); Tỉ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP (đến cuối kỳ) (%); Tốc độ tăng trưởng thị trường trung tâm dữ liệu bình quân/năm (%); Xếp hạng Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) (đến cuối kỳ);
Tốc độ tăng số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế trung bình/năm; Doanh nghiệp công nghệ số của Việt Nam vươn ra toàn cầu; Kinh phí chi cho nghiên cứu và phát triển so với GDP, trong đó tỉ trọng kinh phí từ xã hội (đến cuối kỳ) (%); Tỉ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo (đến cuối kỳ) (%); Tỉ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa (đến cuối kỳ) (%); Phát triển trí tuệ nhân tạo (AI) (đến cuối kỳ); và chỉ tiêu về Phát triển đô thị.
Nhóm chỉ tiêu về xã hội gồm 8 chỉ tiêuchính, bao gồm Phát triển dân số; Số người hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ; Tỉ lệ người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ (STEM); Phát triển nhân lực số; Số lượng cơ sở giáo dục thuộc nhóm 100 đại học hàng đầu thế giới trong một số lĩnh vực theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín; Tỉ lệ tham gia hệ thống an sinh xã hội; Chỉ số tuổi thọ trung bình, trong đó số năm sống khỏe; Chỉ số xếp hạng bình đẳng giới của Việt Nam;
Nhóm chỉ tiêu về văn hóa, con ngườitập trung vào 04 chỉ tiêu: Chỉ số phát triển con người (HDI); Xếp hạng Chỉ số hạnh phúc; Đóng góp của giá trị tăng thêm ngành công nghiệp văn hóa trong GDP (%); Phát triển thương hiệu quốc gia các ngành công nghiệp văn hóa (đến cuối kỳ).
Nhóm chỉ tiêu về môi trường sinh thái đặt ra 05 chỉ tiêu: Tỉ lệ giảm lượng phát thải khí nhà kính (%); Tỉ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp (%); Tỉ lệ khu công nghiệp sinh thái được công nhận trong tổng số khu công nghiệp đang hoạt động (%); Mức độ vận hành thương mại thị trường cácbon; Phòng, chống và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Nhóm chỉ tiêu về quốc phòng, an ninh có 04 chỉ tiêu: Hình thành nền quốc phòng số, lực lượng vũ trang thông minh, công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại; Xếp hạng về Chỉ số an ninh mạng toàn cầu (GCI); Xếp hạng về Chỉ số an ninh mạng toàn cầu (GCI); Phát triển công nghiệp an ninh mạng; Phát triển công nghiệp an ninh tự chủ, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại;
Nhóm chỉ tiêu về đối ngoại và hội nhập quốc tế tập trung vào 01 chỉ tiêu Thu hút các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới.
Bốn mươi chỉ tiêu được xác định theo từng giai đoạn (đến 2030, đến 2035 và đến 2045) với các chỉ số định lượng và định tính rõ ràng. Đây là cơ sở để thực hiện hoạt động theo dõi, đo lường và đánh giá quá trình thực thi Nghị quyết. Trên cơ sở đó, Chương trình hành động cũng đề ra 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể theo từng nhóm chỉ tiêu. Việc thực thi các nhiệm vụ, giải pháp cũng được xây dựng cụ thể theo khung quản trị gồm cơ quan chủ trì; cơ quan phối hợp; thời gian thực hiện/hoàn thành; kết quả/sản phẩm; và nguồn lực thực hiện.
Việc Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam và Bộ Chính trị đồng thời ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với hệ thống chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, lộ trình cụ thể thể hiện sự đồng bộ ngay từ khâu chuẩn bị, bảo đảm sự thống nhất từ chủ trương đến tổ chức thực hiện và thể hiện sự quyết liệt, quyết tâm chính trị rất cao để nhanh chóng đưa Nghị quyết vào cuộc sống, nhằm tạo chuyển biến thực chất trong đổi mới mô hình phát triển đất nước, hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.












