Các hệ thống xã hội cần được thiết kế phù hợp với người khuyết tật

Công nghệ hỗ trợ, trí tuệ nhân tạo (AI), cùng những điều chỉnh về chính sách và giáo dục hòa nhập đang được áp dụng để thu hẹp những rào cản với người khuyết tật.

Từ năm 2024, Chương trình chung của Liên Hợp Quốc do UNDP, UNFPA và UNICEF triển khai đã thí điểm 5 mô hình giáo dục, y tế hòa nhập tại Hà Nội, Đà Nẵng và Cần Thơ, hướng tới lấy nhu cầu và khả năng tiếp cận của người khuyết tật làm cơ sở thiết kế dịch vụ.

Cùng với định hướng phát triển hệ thống giáo dục hòa nhập đến năm 2030, tầm nhìn 2050, Việt Nam cần đưa những cách làm hiệu quả từ mô hình thí điểm vào dịch vụ thường xuyên, bảo đảm tính bền vững và khả năng tiếp cận rộng hơn.

Chia sẻ với Báo Hànộimới, các chuyên gia cho rằng mục tiêu cuối cùng là để người khuyết tật có thể học tập, chăm sóc sức khỏe, đi lại và sử dụng dịch vụ công một cách thuận lợi, chủ động hơn.

PGS.TS. Trần Mạnh Huy, đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu Quốc hội người khuyết tật đầu tiên của Việt Nam. Ảnh: Kiều Thoan Thu

PGS.TS. Trần Mạnh Huy, đại biểu Quốc hội khóa XVI, đại biểu Quốc hội người khuyết tật đầu tiên của Việt Nam. Ảnh: Kiều Thoan Thu

“Công nghệ không nên chỉ giúp người khuyết tật thích nghi với những hệ thống đang vận hành trong xã hội; ngược lại, cần điều chỉnh hệ thống để thích ứng với họ”, theo PGS.TS. Trần Mạnh Huy, đại biểu Quốc hội, chuyên gia trí tuệ nhân tạo và blockchain.

Theo ông, khoảng 1/6 dân số thế giới sống với một dạng khuyết tật. Trong khi đó, nhiều hệ thống giáo dục, y tế và dịch vụ công vẫn được thiết kế chủ yếu cho số đông. Vì vậy, cần chuyển từ hỗ trợ cá nhân sang thiết kế lại hệ thống theo hướng dễ tiếp cận ngay từ đầu.

Trong giáo dục, công nghệ có thể chuyển cùng một nội dung sang nhiều hình thức, như chữ nổi, mô tả hình ảnh, phụ đề, chuyển âm thanh thành văn bản hoặc chuyển đổi giữa lời nói, văn bản, hình ảnh và ký hiệu, giúp người khuyết tật tiếp cận kiến thức dễ dàng hơn.

Trong y tế, các giải pháp công nghệ có thể hỗ trợ khám, tư vấn và theo dõi từ xa, nhất là với người gặp khó khăn trong đi lại; đồng thời được ứng dụng trong phát hiện sớm một số bệnh, theo dõi vận động và phục hồi chức năng.

Cả chương trình của Liên Hợp Quốc và Việt Nam đều chú trọng khả năng tiếp cận dịch vụ công dễ dàng cho người khuyết tật. Ảnh: Maison Chance

Cả chương trình của Liên Hợp Quốc và Việt Nam đều chú trọng khả năng tiếp cận dịch vụ công dễ dàng cho người khuyết tật. Ảnh: Maison Chance

PGS.TS. Trần Mạnh Huy nêu rõ, khả năng tiếp cận cần được tính ngay từ khâu xây dựng chính sách, thiết kế sản phẩm và mua sắm công. Với phương tiện, thiết bị hay giải pháp công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, tiêu chí này cần có trong yêu cầu mua sắm. Chẳng hạn, xe buýt công cộng phải được thiết kế để người khuyết tật có thể lên xuống thuận tiện, thay vì đưa vào sử dụng rồi mới tìm cách khắc phục những bất cập.

Chi phí cũng là một yếu tố cần được tính đến, bởi một công nghệ dù hữu ích nhưng quá đắt vẫn có thể nằm ngoài khả năng tiếp cận của người khuyết tật. Vì vậy, hiệu quả chính sách cần được đánh giá từ những thay đổi thực tế: người khuyết tật có học tập thuận lợi hơn, tiếp cận y tế chủ động hơn và sống độc lập hơn hay không.

Ông cũng đề nghị chuyển từ “làm cho người khuyết tật” sang “làm cùng người khuyết tật”, để họ tham gia từ khâu xác định nhu cầu, thiết kế, thử nghiệm đến phản hồi và đánh giá.

Từ góc độ giáo dục, yêu cầu quan trọng không chỉ là đưa học sinh khuyết tật đến trường, mà phải bảo đảm các em thực sự được học và phát huy năng lực. TS Tạ Ngọc Trí, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Phổ thông (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Giáo dục trẻ khuyết tật và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, cho biết bước chuyển quan trọng hiện nay là nâng chất lượng giáo dục hòa nhập, để mỗi học sinh được học theo năng lực và điều kiện của mình.

TS Tạ Ngọc Trí, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo; Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Giáo dục trẻ khuyết tật và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Ảnh: Kiều Thoan Thu

TS Tạ Ngọc Trí, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo; Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Giáo dục trẻ khuyết tật và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Ảnh: Kiều Thoan Thu

Ông cho biết Việt Nam đã từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý cho giáo dục người khuyết tật. Luật Người khuyết tật năm 2010 tạo nền tảng pháp lý quan trọng, trong khi Luật Giáo dục năm 2019 quy định về giáo dục hòa nhập tại Điều 14.

Quyết định số 403 của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục chuyên biệt và hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập đặt mục tiêu đến năm 2030 có 160 cơ sở, gồm 148 trung tâm và 12 trường giáo dục chuyên biệt.

TS. Tạ Ngọc Trí nêu rõ trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập có vai trò hỗ trợ học sinh gặp nhiều khó khăn trong học tập và hỗ trợ chuyên môn cho trường tổ chức giáo dục hòa nhập. Cùng với việc phát triển hệ thống này, nhà trường cần thay đổi cách tổ chức dạy học theo từng học sinh.

Ông nhấn mạnh sự khác biệt giữa việc học sinh khuyết tật đến trường và thực sự được học. Mục tiêu của giáo dục là giúp mỗi em học nội dung phù hợp với khả năng, làm được việc mình có thể, biết chung sống với mọi người và phát huy năng lực bản thân.

Vì vậy đòi hỏi giáo viên xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân, lựa chọn nội dung phù hợp và chú trọng kỹ năng thiết yếu đối với từng học sinh. Với những em gặp khó khăn trong tiếp thu kiến thức văn hóa, nhà trường cần điều chỉnh mức độ và nội dung học tập, đồng thời tăng cường kỹ năng tự phục vụ, giao tiếp và sinh hoạt.

Học liệu cũng cần được xây dựng theo yêu cầu tiếp cận. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành chuẩn quốc gia về ngôn ngữ ký hiệu và chữ nổi Braille, phối hợp xây dựng sách giáo khoa dạng chữ nổi và phát triển kho học liệu điện tử dễ tiếp cận. Một dự án trước đó đã xây dựng 150 video dạy học sinh khiếm thính thông qua ngôn ngữ ký hiệu.

TS. Tạ Ngọc Trí cũng nêu bật yêu cầu phối hợp giữa giáo dục và y tế, nhất là trong phục hồi chức năng, để hỗ trợ tốt hơn quá trình học tập và phát triển của học sinh khuyết tật.

Điều phối viên thường trú Liên Hợp Quốc tại Việt Nam Pauline Tamesis. Ảnh: Kiều Thoan Thu

Điều phối viên thường trú Liên Hợp Quốc tại Việt Nam Pauline Tamesis. Ảnh: Kiều Thoan Thu

Điều này cũng đặt ra yêu cầu đưa những mô hình đã chứng minh hiệu quả vào vận hành thường xuyên và nhân rộng trong hệ thống, theo trao đổi của Điều phối viên thường trú Liên Hợp Quốc tại Việt Nam Pauline Tamesis. Bà nhận định công nghệ hỗ trợ, trí tuệ nhân tạo và hợp tác công - tư có thể góp phần thúc đẩy quá trình này.

Có thể thấy các ý kiến đều cho rằng thay đổi chỉ thực sự có ý nghĩa khi trở thành một phần trong cách vận hành thường xuyên của giáo dục, y tế và dịch vụ công, giúp người khuyết tật dễ dàng tiếp cận, học tập và sống tự chủ hơn.

Kiều Thoan Thu

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/cac-he-thong-xa-hoi-can-duoc-thiet-ke-phu-hop-voi-nguoi-khuyet-tat-1706069.html