Cách diễn giải hiện tượng 'mất hồn'
Sự uể oải và tê liệt ý chí có thể trầm trọng đến mức toàn bộ nhân cách dường như tan rã, và ý thức mất đi tính thống nhất.

Tác giả: Carl Gustav Jung/Bách Việt Books-NXB phụ nữ Việt Nam
Cái chết và sự bất tử
Đây không chỉ là một cuốn sách về cái chết, mà còn là hành trình khám phá những bí ẩn sâu kín nhất của tâm hồn con người. Từ góc nhìn của tâm lý học phân tích, tác phẩm tập hợp những suy tư, bài viết và quan điểm của Carl Jung về cái chết, sự sống và khát vọng bất tử đã tồn tại trong mọi nền văn minh.
Cách diễn giải hiện tượng 'mất hồn'
Sự uể oải và tê liệt ý chí có thể trầm trọng đến mức toàn bộ nhân cách dường như tan rã, và ý thức mất đi tính thống nhất.
Sự biến đổi chủ thể (biến đổi nhân cách)
Sự biến đổi nhân cách hoàn toàn không phải là hiện tượng hiếm gặp. Thực tế, chúng đóng một vai trò đáng kể trong lĩnh vực bệnh lý tâm thần, mặc dù chúng khá khác biệt so với những trải nghiệm mang tính huyền nhiệm mà chúng ta vừa thảo luận (vốn là những thứ không dễ gì tiếp cận bằng bằng các phương pháp nghiên cứu tâm lý). Tuy nhiên, những hiện tượng mà chúng ta sắp xem xét sau đây lại thuộc về một địa hạt vốn khá quen thuộc với tâm lý học.
• Sự suy giảm nhân cách. Một ví dụ về sự biến đổi nhân cách theo hướng suy giảm được tâm lý học nguyên thủy gọi là “mất hồn” (loss of soul). Tình trạng đặc biệt này được người nguyên thủy giải thích bằng cách cho rằng linh hồn đã bỏ đi, giống như một con chó đột nhiên bỏ chủ mà chạy mất trong đêm.
Khi đó, nhiệm vụ của thầy phù thủy - thầy lang (medicine–man) là đi tìm và đưa “linh hồn bỏ trốn” ấy trở về. Việc “mất hồn” thường xảy ra đột ngột và biểu hiện ra bên ngoài bằng cảm giác mệt mỏi, uể oải lan khắp cơ thể. Hiện tượng này gắn chặt với bản chất của ý thức người nguyên thủy - vốn thiếu đi sự gắn kết vững chắc như ý thức của con người hiện đại.
Chúng ta có khả năng kiểm soát sức mạnh ý chí, nhưng người nguyên thủy thì không. Để họ có thể tập trung bản thân cho một hoạt động có ý thức và có chủ đích - thay vì chỉ phản ứng theo cảm xúc và bản năng - họ cần đến những bài tập phức tạp.
Về phương diện này, ý thức của chúng ta an toàn và đáng tin cậy hơn (so với người nguyên thủy). Tuy nhiên, đôi khi những điều tương tự vẫn có thể xảy ra với người văn minh, chỉ khác ở chỗ họ không gọi đó là “mất hồn”, mà gọi là “sự suy giảm năng lượng tâm trí” (abaissement du niveau mental), một thuật ngữ rất xác đáng do Janet đề xuất để chỉ hiện tượng này.
Đó là một sự suy giảm sức căng của ý thức, có thể so sánh với chỉ số khí áp xuống thấp, báo hiệu cơn bão sắp đến. Trạng thái “trương lực” tâm thần đã suy yếu, và điều này được cảm nhận một cách chủ quan qua sự thờ ơ, ủ rũ và trầm uất. Người ta không còn bất kỳ ham muốn hay can đảm để đối diện với những công việc hằng ngày.
Ta cảm thấy cơ thể nặng nề như chì, vì dường như không một bộ phận nào của cơ thể muốn cử động; điều này xảy ra là do ta không còn chút năng lượng dự phòng nào để sử dụng nữa. Hiện tượng quen thuộc này tương ứng với cái mà người nguyên thủy gọi là “mất hồn”.
Sự uể oải và tê liệt ý chí có thể trầm trọng đến mức toàn bộ nhân cách dường như tan rã, và ý thức mất đi tính thống nhất; từng phần riêng lẻ của nhân cách trở nên độc lập và thoát khỏi sự kiểm soát của ý thức, chẳng hạn như trong các trường hợp mất cảm giác ở một số vùng cơ thể (anaesthetic areas) hoặc mất trí nhớ hệ thống (systematic amnesias).
Những hiện tượng sau này được biết đến trong y khoa dưới tên gọi “mất chức năng” do tâm căn (hysterical), và thuật ngữ này hoàn toàn tương đồng về ý nghĩa với khái niệm “mất hồn” trong tâm lý học nguyên thủy.

Trạng thái 'mất hồn' trở thành một thuật ngữ phổ biến để chỉ sự bất ổn tâm lý. Ảnh: Magnific.
Sự suy giảm năng lượng tâm trí (abaissement du niveau mental) có thể là hệ quả của sự mệt mỏi về thể chất và tinh thần, bệnh tật thân xác, những cảm xúc dữ dội hoặc những cú sốc - trong đó cú sốc có tác động đặc biệt tai hại đến sự tự tin của con người. Sự suy giảm này luôn có ảnh hưởng tiêu cực lên toàn bộ nhân cách.
Nó làm thui chột niềm tin vào bản thân và ý chí dấn thân, đồng thời, do xu hướng gia tăng cái Tôi vị kỷ (do cảm giác bất an), nó làm thu hẹp chân trời trí tuệ của con người. Cuối cùng, điều này có thể dẫn đến sự hình thành của một nhân cách tiêu cực về bản chất nghĩa là, một sự giả tạo hóa so với nhân cách nguyên bản đã bắt đầu chiếm ưu thế.
• Sự mở rộng nhân cách. Hiếm người nào mà nhân cách (tính cách) không bị thay đổi dần theo thời gian mà vẫn nguyên trạng như thuở ban đầu (ấu thơ). Chính vì thế, khả năng biến đổi theo hướng mở rộng nhân cách luôn tồn tại, ít nhất là trong nửa đầu của cuộc đời.
Sự mở rộng này có thể được thực hiện thông qua quá trình bồi đắp từ bên ngoài, bằng cách để những nội dung sống mới mẻ từ thế giới bên ngoài tìm đường thâm nhập vào nhân cách và được chúng ta hấp thụ, đồng hóa (vào bên trong).
Theo cách đó, con người có thể trải nghiệm một sự phát triển đáng kể về nhân cách. Vì vậy, chúng ta thường có xu hướng giả định rằng sự phát triển này chỉ đến từ bên ngoài, do đó dung túng cho một định kiến cho rằng một người trở thành có “nhân cách” bằng cách nhồi nhét vào bản thân càng nhiều thứ từ bên ngoài càng tốt.
Thế nhưng, chúng ta càng mải mê theo đuổi theo công thức đó, và càng ngoan cố tin rằng mọi sự thăng tiến đều phải đến từ bên ngoài bao nhiêu, thì sự nghèo nàn bên trong (nội tâm) của chúng ta lại càng trở nên trầm trọng bấy nhiêu.
Vì vậy, nếu có một tư tưởng lớn lao nào đó từ bên ngoài xâm chiếm lấy ta, chúng ta phải hiểu rằng nó chỉ có thể làm được điều đó vì có một cái gì đó bên trong chúng ta phản hồi và bước ra đón gặp nó.
Sự giàu có của tinh thần nằm ở khả năng tiếp thụ, chứ không phải ở việc tích trữ các “tài sản” tri thức. Những gì đến từ bên ngoài, và cả những gì trỗi dậy từ bên trong, chỉ có thể thực sự trở thành của ta nếu ta có một “biên độ nội tại” đủ rộng, tương xứng với tầm vóc của những nội dung đó.
Sự phát triển thực sự của nhân cách luôn đi kèm với việc ý thức được một sự mở rộng tuôn chảy từ các mạch nguồn bên trong. Nếu thiếu đi chiều sâu tâm lý, chúng ta không bao giờ có thể thiết lập một mối liên hệ tương xứng với tầm vóc của đối tượng mà mình hướng tới. Vì vậy, người ta thường nói rất đúng rằng: “con người lớn lên cùng với tầm vóc của nhiệm vụ mà họ gánh vác”.
Nhưng bản thân người đó phải có sẵn năng lực lớn lên từ bên trong; nếu không, ngay cả nỗ lực thực hiện nhiệm vụ khó khăn nhất cũng chẳng mang lại lợi ích gì cho anh ta. Ngược lại, nhiều khả năng anh ta sẽ bị chính nhiệm vụ đó đè bẹp.
Nguồn Znews: https://znews.vn/cach-dien-giai-hien-tuong-mat-hon-post1684232.html
