CÁCH MẠNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI NHẤT ĐỊNH THẮNG LỢI DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG VÀ THẾ TRẬN LÒNG DÂN - Bài 2: Thành quả sau 40 năm đổi mới chứng minh con đường đi lên xã hội chủ nghĩa của dân tộc ta là đúng!
Đảng cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo dân tộc ta đánh đuổi giặc ngoại xâm, tạo lên những chiến thắng chấn động địa cầu. Khi đất nước bị chia cắt, Đảng vẫn kiên định con đường giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Để rồi, sau 40 đổi mới, Việt Nam ta chưa bao giờ có được cơ đồ, vị thế, tiềm lực và uy tín như ngày nay.
Trong thời kỳ kháng chiến chống ngoại xâm, dù mới thành lập nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam đã tập trung nghiên cứu lý luận phục vụ nhiệm vụ giải phóng dân tộc, nên chưa có nhiều điều kiện đi sâu vào lý luận và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Sau năm 1954 ở miền Bắc và đặc biệt sau năm 1975 thống nhất đất nước, Đảng bắt đầu nghiên cứu bước đầu về xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng kiên định mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội, xác định nước ta bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội từ nền sản xuất nhỏ lạc hậu - đặc điểm lớn nhất của thời kỳ quá độ.
“Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức” - Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đại hội III (1960) đề ra Đường lối chung cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc với nội dung cải tạo xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa ưu tiên công nghiệp nặng, phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, tiến hành cách mạng tư tưởng - văn hóa - kỹ thuật.
Kế thừa và bổ sung, Đại hội IV (1976) đề ra Đường lối chung cho cả nước: nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng (quan hệ sản xuất, khoa học - kỹ thuật, tư tưởng - văn hóa), trong đó khoa học - kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là trung tâm, xây dựng “bốn cái mới” (chế độ mới, kinh tế mới, văn hóa mới, con người mới).
Tuy nhiên, đường lối này còn chịu ảnh hưởng của mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu cũ, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Nhận thức còn một số nội dung chưa rõ, mắc bệnh chủ quan duy ý chí, nóng vội, giản đơn. Đảng đã vi phạm một số quy luật khách quan của thời kỳ quá độ, dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài trước Đại hội VI. Đảng đứng trước yêu cầu đổi mới.
Đổi mới là sự nghiệp cách mạng sâu sắc, qua đó Đảng đã hình thành và không ngừng phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Quá trình này được thể hiện rõ nét qua các kỳ Đại hội từ VI (1986) đến XII (2016).
Theo đó, từ Đại hội VI, Đảng xác định mục tiêu tổng quát là “dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh”, sau được bổ sung thành “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng. (Ảnh tư liệu)
Cương lĩnh 1991 lần đầu tiên hệ thống hóa 6 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng: nhân dân lao động làm chủ; kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu; văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, ấm no hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết; quan hệ hữu nghị hợp tác với nhân dân thế giới.
Đến Cương lĩnh (bổ sung, phát triển 2011), Đảng hoàn thiện thành 8 đặc trưng, nhấn mạnh: dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với lực lượng sản xuất; dân chủ được đặt trước công bằng trong mục tiêu tổng quát.
Đảng cũng làm rõ đặc điểm thời kỳ quá độ: bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa một cách chọn lọc những thành tựu của văn minh nhân loại, đặc biệt khoa học - công nghệ. Đây là quá trình lâu dài, phức tạp, nhiều chặng đường, đan xen đấu tranh giữa cái mới và cái cũ.
Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng xác định 8 phương hướng cơ bản trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại và xây dựng Đảng, trong đó nổi bật là phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Đảng cũng đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết biện chứng các mối quan hệ lớn: giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội; giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ… Không cực đoan, phiến diện, duy ý chí.
Nhờ vậy mà, nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng sáng tỏ, khoa học và phù hợp thực tiễn, tạo nền tảng tư tưởng vững chắc cho sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.
Đến nay, sau gần 40 năm, thành quả đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng góp phần khẳng định cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước, tạo tiền đề và niềm tin vững chắc cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Tổng Bí Thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. (Ảnh: Quốc hội)
Tổng Bí thư (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) Tô Lâm đã khẳng định: “Sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã vượt qua mọi khó khăn, vươn tới những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”.
Trong đó, thành tựu trên lĩnh vực kinh tế được coi là một kỳ tích, một thành công nổi bật của Đảng và Nhân dân ta. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nền kinh tế Việt Nam, là sự đột phá về lý luận và xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, phải nhập khẩu lương thực, sau gần 40 năm Đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu kinh tế - xã hội to lớn và toàn diện.

Toàn cảnh Đại hội XIV của Đảng. (Nguồn: Quốc hội)
Đến hết năm 2024, quy mô GDP đạt 470 tỷ USD, tăng gấp 96 lần so với năm 1986, đứng thứ 4 ASEAN và thứ 32 thế giới (thứ 24 theo PPP). Thu nhập bình quân đầu người đạt 4.700 USD, dự kiến vượt 5.000 USD vào cuối năm 2025. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng công nghiệp - dịch vụ. Kim ngạch xuất nhập khẩu đạt gần 800 tỷ USD, xuất siêu khoảng 23 tỷ USD. Việt Nam trở thành một trong 20 nền kinh tế thương mại lớn nhất thế giới.
Nông nghiệp không chỉ đảm bảo an ninh lương thực cho hơn 100 triệu dân trong nước mà còn là một trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Đến nay, Việt Nam thu hút hơn 520 tỷ USD vốn FDI đăng ký, với hơn 36.000 dự án đang hoạt động. Các tổ chức quốc tế như WB, ADB, Bloomberg đánh giá Việt Nam là câu chuyện thành công và tiềm năng trở thành “con hổ châu Á”.
Song song với tăng trưởng kinh tế, Đảng luôn chú trọng tiến bộ và công bằng xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% (1993) xuống còn khoảng 1,93% (2024). Chỉ số hạnh phúc xếp thứ 54/143.
Giáo dục đạt nhiều tiến bộ vượt bậc: Xóa mù chữ, phổ cập tiểu học và THCS, tỷ lệ sinh viên cao đẳng - đại học tăng gần 20 lần. Y tế được cải thiện rõ rệt với 94,1% dân số có bảo hiểm y tế, tuổi thọ trung bình tăng lên 74,6 tuổi, chỉ số HDI đạt 0,726.

Ảnh tư liệu (Nguồn: CTV).
Những thành tựu này khẳng định đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng, đưa đất nước phát triển mạnh mẽ, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện. Chặng đường gần 40 năm đổi mới chứng kiến sự chuyển biến và phát triển mạnh mẽ của hoạt động đối ngoại. Việt Nam có thêm thế và lực mới trong một thế giới đầy biến động và phức tạp.
Năm 1986, Việt Nam đổi mới toàn diện. Cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu khủng hoảng rồi sụp đổ, đòi hỏi Đảng phải ban hành chủ trương, giải pháp mới về công tác đối ngoại.
Nghị quyết số 13/NQ-TW, ngày 20/5/1988, của Bộ Chính trị, thể hiện bước chuyển mang tính bước ngoặt trong tư duy đối ngoại và đặt nền móng cho chủ trương “đa phương hóa, đa dạng hóa” của Đảng, Nhà nước Việt Nam, đã bắt đầu một trang mới trong lịch sử ngoại giao nước nhà.
Từ một nước bị bao vây, cấm vận, đến nay, Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế, thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 nước (trong đó có 3 nước quan hệ đặc biệt, 12 nước đối tác chiến lược toàn diện). Đặc biệt, nước ta đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 4/5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc (nước còn lại là đối tác chiến lược), có quan hệ kinh tế - thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Đó là kết quả nổi bật của đường lối đối ngoại, ngoại giao độc lập, tự chủ, toàn diện, giữ vững nguyên tắc chiến lược nhưng hết sức linh hoạt, mềm dẻo về sách lược mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”.
Qua gần 40 năm đổi mới, nhận thức, tư duy lý luận của Đảng về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc có sự phát triển và ngày càng được hoàn thiện, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ được Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân đạt kết quả tích cực; lực lượng vũ trang nhân dân không ngừng lớn mạnh, đủ sức hoàn thành thành mọi nhiệm vụ.
Có thể khẳng định rằng, sau gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay. Đây là câu trả lời, là minh chứng rõ nét nhất cho con đường đi lên xã hội chủ nghĩa của nước ta. Đây cũng là nền tảng, là cơ sở, là những điều kiện cần và đủ để đất nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.











