Cách nói 'bỏ IELTS' và 'không còn xét chứng chỉ ngoại ngữ' là không chính xác

Hơn 37.300 thí sinh được cộng điểm nhờ chứng chỉ tiếng Anh trong tuyển sinh đại học năm 2026, trong đó trên 35.900 người dùng IELTS. Bộ GD&ĐT cho rằng cách tính này có thể làm thay đổi thứ tự xét tuyển và cần được chuẩn hóa.

Không bỏ chứng chỉ, chỉ bỏ điểm cộng

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), cho biết, dự thảo Thông tư sửa đổi Quy chế tuyển sinh đề xuất từ năm 2027 không còn điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định đối với chứng chỉ, thành tích hoặc tiêu chí bổ sung.

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo (Ảnh: moet).

GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo (Ảnh: moet).

Thay đổi này nhằm bảo đảm thí sinh dự tuyển cùng một ngành được đánh giá theo cùng yêu cầu đầu vào và một thang đo thống nhất, đồng thời giúp tuyển sinh minh bạch, đơn giản và thực chất hơn.

Cách nói "bỏ IELTS" hay "không còn xét chứng chỉ ngoại ngữ" là không chính xác. Dự thảo không loại bỏ chứng chỉ ngoại ngữ khỏi tuyển sinh và cũng không phủ nhận thành tích học sinh giỏi.

Chứng chỉ ngoại ngữ vẫn có thể được dùng để quy đổi, thay thế điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển theo quy tắc công khai; chứng minh yêu cầu ngoại ngữ đầu vào của chương trình đào tạo bằng tiếng nước ngoài; hoặc được xem xét công nhận học phần, chuẩn đầu ra theo quy định.

Thí sinh đoạt giải học sinh giỏi quốc gia, quốc tế vẫn được xét tuyển thẳng nếu đáp ứng điều kiện của quy chế. Từ năm 2027, xét tuyển thẳng cũng không tính vào giới hạn ba phương thức của mỗi ngành.

Điểm thay đổi là các trường không được cộng thêm điểm ngoài thang đánh giá chính đối với chứng chỉ, thành tích hoặc tiêu chí bổ sung.

"Nguyên tắc là một năng lực phải được đánh giá đúng vị trí, ghi nhận một lần và theo cùng quy tắc đối với mọi thí sinh dự tuyển vào cùng một ngành", ông Thảo nói.

Nếu ngoại ngữ là năng lực đầu vào cần thiết, cơ sở đào tạo phải đưa ngoại ngữ thành một hợp phần chính thức của phương thức xét tuyển. Thí sinh có thể dùng điểm thi hoặc chứng chỉ được quy đổi tương đương.

Ngược lại, nếu ngành chỉ xét Toán, Vật lý và Hóa học, việc cộng thêm điểm vì có chứng chỉ tiếng Anh sẽ đưa một tiêu chí không thuộc yêu cầu đầu vào vào quá trình xét tuyển, từ đó có thể làm thay đổi thứ tự thí sinh.

Trường hợp tổ hợp đã có môn tiếng Anh nhưng thí sinh tiếp tục được cộng điểm nhờ chứng chỉ tiếng Anh cũng phát sinh bất hợp lý, bởi cùng một năng lực ngoại ngữ được ghi nhận hai lần. Chứng chỉ có chức năng xác nhận năng lực, không mặc nhiên là một khoản điểm thưởng trong mọi ngành học.

Một ngành, chương trình đào tạo phải có tiêu chí tuyển sinh thống nhất, đồng thời điểm đầu vào giữa các phương thức cần tương đương. Từ năm 2023, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã yêu cầu quy đổi tương đương để giảm chênh lệch; năm 2026 tiếp tục khống chế điểm cộng tối đa 10% tổng điểm xét tuyển.

Tuy nhiên, khi mỗi trường tự quy đổi và xác định mức điểm cộng, sự khác biệt vẫn lớn. Vì vậy, đề xuất bỏ điểm cộng không phải thay đổi đột ngột về định hướng, mà là bước tiếp theo trong lộ trình kiểm soát và chuẩn hóa tuyển sinh.

Dữ liệu tuyển sinh năm 2026 cho thấy hơn 37.300 thí sinh sử dụng chứng chỉ tiếng Anh để được cộng điểm, trong đó trên 35.900 thí sinh sử dụng IELTS.

IELTS 6.0 là mức phổ biến nhất, với 8.318 thí sinh, nhưng được các trường quy định thành 26 mức điểm cộng khác nhau.

Ở nhóm ngành thuộc tốp 5% có điểm chuẩn cao, với ngưỡng tham chiếu 26,09/30, hơn 30% người nhập học có điểm cộng. Tỷ lệ này ở nhóm ngoài tốp 25% là 9,51%.

Trong ba phương thức không có cấu phần ngoại ngữ riêng gồm xét điểm thi tốt nghiệp THPT, xét học bạ và kết hợp hai kết quả, 51,42% thí sinh có điểm cộng có điểm gốc thấp hơn mức trúng tuyển của ngành.

Các số liệu này không xác định được từng cặp thí sinh bị thay thế, nhưng cho thấy điểm cộng có thể trở thành yếu tố quyết định kết quả tại những ngành có mức độ cạnh tranh cao.

Không tính hai lần cùng một năng lực

Ông Thảo cho rằng, công bằng trong tuyển sinh không phải là chia đều lợi thế, mà là bảo đảm thí sinh cùng dự tuyển vào một ngành được đánh giá bằng cùng tiêu chí. Hai cách thức đang tạo ra bất cập cần được xử lý ngay, tránh để tiêu chí ngoài yêu cầu đầu vào làm thay đổi thứ tự xét tuyển.

Thứ nhất, ngành không yêu cầu ngoại ngữ nhưng thí sinh có chứng chỉ tiếng Anh vẫn được cộng điểm. Chẳng hạn, với ngành chỉ xét Toán, Vật lý và Hóa học, một thí sinh có kết quả ba môn cao hơn vẫn có thể trượt trước thí sinh có điểm chuyên môn thấp hơn nhưng được cộng điểm chứng chỉ, như minh họa ở hình 1.

Thứ hai, tổ hợp đã có môn tiếng Anh nhưng chứng chỉ tiếng Anh tiếp tục được dùng để cộng thêm điểm. Khi đó, năng lực ngoại ngữ vừa được phản ánh trong điểm tổ hợp, vừa tạo thêm lợi thế ngoài thang đo.

Một năng lực được tính hai lần có thể làm thay đổi thứ tự xét tuyển, đặc biệt ở những ngành có điểm chuẩn cao, nơi chênh lệch rất nhỏ cũng có thể quyết định kết quả trúng tuyển. "Quyền sử dụng chứng chỉ của một người không thể làm mất cơ hội được đánh giá công bằng của người khác", ông Thảo nói.

Quyền lợi chính đáng của người có chứng chỉ không bị mất. Nếu ngành cần ngoại ngữ, trường phải đưa ngoại ngữ vào tiêu chí chính thức; thí sinh được dùng điểm thi hoặc chứng chỉ quy đổi tương đương.

Chứng chỉ vẫn được dùng để chứng minh yêu cầu đầu vào của chương trình đào tạo bằng ngoại ngữ. Điều được đề xuất chấm dứt là điểm cộng ngoài thang đánh giá, nhất là khi ngoại ngữ không thuộc yêu cầu đầu vào hoặc đã được ghi nhận trong tổ hợp.

Thống kê hiện nay cho thấy nhiều ngành có điểm chuẩn khoảng 28 nhưng cho cộng tới 1,5 điểm. Khi đó, thí sinh đạt 26,5-28 điểm có thể không trúng tuyển do không có chứng chỉ thuộc diện được cộng điểm.

Đây là vấn đề liên quan trực tiếp đến công bằng trong tuyển sinh và cần được điều chỉnh. Tự chủ tuyển sinh phải đi cùng trách nhiệm giải trình, không thể để một tiêu chí làm thay đổi cạnh tranh giữa các thí sinh theo cách thiếu thống nhất.

Phượng Nguyễn

Nguồn Xây Dựng: https://baoxaydung.vn/cach-noi-bo-ielts-va-khong-con-xet-chung-chi-ngoai-ngu-la-khong-chinh-xac-192260921115218408.htm