Cải cách thể chế cần được chuyển thành động lực tăng trưởng thực chất
Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, TS. Lê Thị Thùy Vân - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách Kinh tế - Tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, cải cách thể chế cần được chuyển thành động lực tăng trưởng thực chất, đặt trong tầm nhìn dài hạn của mô hình phát triển mới. Theo đó, chuyển từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo, dẫn dắt phát triển, quản trị theo mục tiêu và đo lường bằng kết quả, tác động phát triển thực tế.
PV: Bà đánh giá thế nào về những điểm sáng nổi bật hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong 6 tháng đầu năm 2026?

TS. Lê Thị Thùy Vân
TS. Lê Thị Thùy Vân: Tôi cho rằng, điểm sáng nổi bật trước hết động lực tăng trưởng đã được làm mới khi khu vực sản xuất chuyển từ “phục hồi” sang “mở rộng năng lực”. Chỉ số IIP tăng 10,8%, cao nhất kể từ 2019 trong khi tồn kho giảm là tín hiệu cho thấy nhu cầu thực đang được đáp ứng bằng năng lực sản xuất mới, không phải tồn kho ảo hay kích cầu ngắn hạn. Việc PMI năm 2026 duy trì vững trên ngưỡng mở rộng 50 điểm suốt 12 tháng liên tiếp dù môi trường thương mại quốc tế vẫn nhiều bất định, cho thấy nền sản xuất trong nước đã có sức chống chịu tốt hơn hẳn - đây là cơ sở để kỳ vọng công nghiệp còn dư địa tăng trưởng trong nửa cuối năm. Bên cạnh đó, tốc độ tăng tích lũy tài sản (15,2%) cao hơn hẳn tăng tiêu dùng cuối cùng (8,15%) cho thấy nền kinh tế đang có xu hướng tăng đầu tư cho năng lực tương lai chứ không chỉ tiêu dùng hiện tại.
Hai là, dòng vốn công nghệ cao bắt đầu định hình hệ sinh thái tăng trưởng mới khi các dự án quy mô lớn về bán dẫn, AI, trung tâm dữ liệu được triển khai đồng thời, cho thấy Việt Nam lần đầu có cơ hội tham gia sớm vào một chu kỳ công nghệ toàn cầu (bán dẫn, AI, trung tâm dữ liệu) thay vì đi sau tiếp nhận dịch chuyển như các chu kỳ FDI trước đây.
Ba là, cải cách thể chế đã chuyển hóa thành tốc độ thực thi cụ thể, đo lường được. Cải cách thể chế được đẩy với tốc độ chưa từng có, cho thấy chuyển động từ chủ trương sang hành động cụ thể. Chính phủ ban hành 11 nghị quyết trong tháng 4 và tháng 5/2026 để thực hiện phân cấp 362 thủ tục hành chính, cắt giảm 697 thủ tục, đơn giản hóa 673 thủ tục và bãi bỏ 1.754 điều kiện kinh doanh (dự kiến giảm 53% thời gian thực hiện và 54,6% chi phí tuân thủ so với năm 2024). Đây là một trong những đợt cải cách có quy mô lớn nhất trong nhiều năm, gắn liền với mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Bốn là, niềm tin doanh nghiệp phục hồi rõ rệt và có cơ sở định lượng. Có 169.842 doanh nghiệp gia nhập/tái gia nhập thị trường (+11,2%), cao hơn số rút lui; chỉ số niềm tin kinh doanh Eurocham đạt 79,7 điểm, tăng mạnh so với 61,1 điểm cùng kỳ 2025; khảo sát UOB cho thấy 85% doanh nghiệp có tâm lý kinh doanh tích cực, so với 48% cùng kỳ năm trước.
Điều quan trọng là tôi muốn đặt điểm sáng này trong một khung nhìn rộng hơn khi tại Hội nghị Trung ương lần thứ ba vừa qua, Đảng đã đặt vấn đề đổi mới mô hình phát triển đất nước lên tầm chiến lược, xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Sản xuất công nghiệp là khu vực phải gánh phần lớn mức tăng trưởng bổ sung theo kịch bản mới. Ảnh: Đức Thanh
PV: Trong những tháng cuối năm 2026, với góc nhìn của bà, thách thức đặt ra cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam là gì?
TS. Lê Thị Thùy Vân: Trong bối cảnh môi trường quốc tế bất định, để đạt được mục tiêu tăng trưởng khoảng 10% cả năm 2026, GDP quý III và quý IV cần đạt lần lượt khoảng 11,6% và 11,9%. Riêng khu vực công nghiệp - xây dựng, mức tăng yêu cầu cho 6 tháng cuối năm đã được điều chỉnh lên tới 14,3%. Điều này cho thấy thách thức không chỉ là duy trì đà tăng trưởng hiện có, mà phải tạo ra mức tăng trưởng bổ sung rất lớn trong nửa cuối năm, chủ yếu phải đến từ công nghiệp - xây dựng và xuất khẩu.
Đồng thời, áp lực lạm phát gia tăng làm thu hẹp dư địa chính sách hỗ trợ tăng trưởng. Áp lực giá đã lan từ một số mặt hàng riêng lẻ sang nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ (chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu sản xuất tăng 5,4%, giá dịch vụ vận tải hàng không tăng 14,7%), phản ánh nguy cơ truyền dẫn chi phí đầu vào sang giá tiêu dùng trong các tháng cuối năm. Đây chính là thách thức khi đảm bảo tăng trưởng bứt phá trong bối cảnh dư địa nới lỏng tiền tệ, tài khóa đang dần bị thu hẹp.
Đẩy nhanh chiến lược bán dẫn, AI như một lợi thế cạnh tranh quốc gia
Theo TS. Lê Thị Thùy Vân, cần vận hành thông suốt mô hình chính quyền địa phương hai cấp, thể chế hóa đầy đủ Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đẩy nhanh chiến lược bán dẫn, AI như một lợi thế cạnh tranh quốc gia trong thu hút FDI công nghệ cao… Đây không chỉ những động lực cho tăng trưởng kinh tế trong 6 tháng cuối năm 2026 mà còn đặt nền móng cho mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo, bền vững đến năm 2045 và tầm nhìn 2130.
Cùng với đó, “khoảng cách chuyển hóa nguồn lực” tiếp tục là điểm nghẽn cốt lõi khi vốn FDI thực hiện chỉ tăng 11,2% dù vốn đăng ký tăng tới 61%, cho thấy quá trình chuyển cam kết đầu tư thành nhà máy, năng lực sản xuất thực tế diễn ra chậm hơn nhiều so với tốc độ thu hút dự án mới. Giải ngân đầu tư công mới đạt khoảng 38,5% kế hoạch dù kế hoạch vốn cao kỷ lục, hơn 1,08 triệu tỷ đồng. Trong khi đó, cần giải được nút thắt mang tính nền tảng là hạ tầng năng lượng và logistics (chi phí logistics hiện vẫn ở mức 16 - 18% GDP, cao gần gấp đôi các nền kinh tế logistics phát triển, 8 - 12%)
Ngoài ra, cấu trúc thương mại vẫn lệch, tạo áp lực lên cán cân thương mại và tỷ giá. Xuất khẩu tăng 21% nhưng gần 80% đến từ khối FDI; thặng dư của khu vực FDI đã thu hẹp từ 19,2 tỷ USD (cùng kỳ 2025) xuống còn 7,6 tỷ USD, trong khi thâm hụt của khu vực doanh nghiệp trong nước tăng 2,1 lần, từ 11,3 tỷ USD lên 24,2 tỷ USD. Nếu không có chuyển biến căn bản về liên kết nội địa hóa giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước, việc thu hẹp thâm hụt cán cân thương mại nửa cuối năm sẽ rất khó khăn, kéo theo áp lực lên tỷ giá và dư địa giảm lãi suất.
Nhìn chung, tăng trưởng kinh tế cần tiếp tục được nâng lên đáng kể trong khi áp lực lạm phát có dấu hiệu gia tăng, nhu cầu vốn và đầu vào sản xuất tăng nhanh, cán cân thương mại có dấu hiệu thu hẹp và dư địa điều hành chính sách tiền tệ, tài khóa chịu nhiều ràng buộc hơn. Đây chính là những thách thức lớn, tạo ra áp lực lớn đối với việc phối hợp mục tiêu tăng trưởng với kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn trong những tháng cuối năm 2026.
PV: Vậy theo bà, cần chú trọng những động lực nào ngay từ bây giờ để kinh tế Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng?
TS. Lê Thị Thùy Vân: Năm 2026 là năm bản lề rất đặc biệt phải hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số. Theo đó, tôi cho rằng những động lực cần được chú trọng ngay từ bây giờ để đạt được mục tiêu tăng trưởng.
Trước tiên, thúc đẩy sản xuất công nghiệp - xây dựng đạt mức tăng trưởng đột phá, bởi đây là khu vực phải gánh phần lớn mức tăng trưởng bổ sung theo kịch bản mới.
Thứ hai, khơi thông “khoảng cách chuyển hóa nguồn lực” thông qua nâng cao liên kết giữa FDI và doanh nghiệp trong nước. Mở rộng và đẩy nhanh cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho công nghệ tài chính và các mô hình kinh doanh mới - đây cũng chính là một trong những khâu đột phá được xác định trong Nghị quyết về Đổi mới mô hình phát triển vừa ban hành, khi Trung ương xác định cơ chế sandbox là “phương thức quản trị phát triển mới”.
Thứ ba, giải ngân đầu tư công cần được xử lý như bài toán về chất lượng thực thi, không chỉ tốc độ. Cùng với việc xây dựng kịch bản giải ngân chi tiết theo từng tuần, từng tháng, từng quý để cảnh báo sớm, cần tập trung xử lý dứt điểm nguyên nhân gốc rễ. Về dài hạn, nghiên cứu áp dụng tiêu chí hiệu quả vốn để giảm ICOR, ưu tiên dự án hạ tầng lan tỏa cao như cao tốc Bắc - Nam, đường sắt tốc độ cao, cảng nước sâu.
PV: Xin cảm ơn bà!












