Cảm thụ văn học: Câu hát mang mùa Xuân gửi đến Trường Sa
'Mang câu hát đến Trường Sa' của Nguyễn Hưng Hải không ồn ào, không phô trương, bài thơ đi vào lòng người tự nhiên, bằng con đường mềm nhất...

Vượt sóng đến với đảo Đá Đông A (Đặc khu Trường Sa), tháng 4/2024. Ảnh: Bình Thanh
Có những bài thơ viết về Trường Sa mang dáng vóc của bức phù điêu lớn: Cờ đỏ rợp trời, sóng gầm như trống trận, những dáng đứng hiên ngang nơi đầu sóng ngọn gió.
Mang câu hát đến Trường Sa
Nguyễn Hưng Hải
Những chuyến tàu sắp Tết lại ra khơi
Mang theo tấm lòng của đất liền gửi gắm
Mang câu hát lên tàu không sợ gì bão sóng
Em đến với Trường Sa cho đảo bớt khô cằn
Tết Trường sa bao nhiêu thứ đang cần
Có thể thiếu mớ rau nhưng không thể không cần câu hát
Câu hát làm các anh vơi đi niềm khô khát
Các anh vẫn thường hát cho nhau nghe khi không có em
Chỉ có em mới có thể làm đá mềm đi, cho sóng ấm lên
Chỉ có em mới làm cho nỗi nhớ đất liền các anh chùng lại
Nơi quanh năm thiếu bóng đàn bà, con gái
Nếu cũng như ai đó ngại ngần… em đã không ra
Mang câu hát lên tàu em đến Trường Sa
Mang theo cả tấm lòng của đất liền gửi gắm
Em chỉ sợ không hát được cho các anh nghe vì mất giọng
Bão sóng làm sao cản được trái tim em
Chỉ mong giữa Trường Sa các anh gặp đất liền
Các anh là đất liền của lòng em, của bao niềm thương nhớ
Những chuyến tàu như cũng vì em,
vì bao người con gái như em mà vượt lên sóng dữ
Bởi các anh là bài ca Trường Sa em chưa hát bao giờ.
Nhưng cũng có những bài thơ không cần dựng tượng đài, chỉ lặng lẽ đặt vào tay người đọc một câu hát nhỏ, mong manh mà đủ làm lòng ta xao xuyến, và mỗi ngày như được nâng niu từng bước chân qua.
“Mang câu hát đến Trường Sa” của Nguyễn Hưng Hải thuộc về mạch thơ thứ hai và cũng rất đỗi diệu kỳ ấy. Không ồn ào, không phô trương, bài thơ đi vào lòng người tự nhiên, bằng con đường mềm nhất: Tình yêu, giọng hát rất người cất lên từ một trái tim dịu dàng, vượt sóng gió để đến với các anh nơi tuyến đầu Tổ quốc.
Nhịp gõ cửa trái tim
Bài thơ mở ra ở thời khắc nhạy cảm nhất của năm, đó là những ngày sắp Tết. Hai chữ ấy vừa chạm vào ký ức chung, vừa làm nền cho một đối sánh lặng thầm: Tết là trở về, còn ở đây là ra khơi. Chỉ một dòng “Những chuyến tàu sắp Tết lại ra khơi” đã gợi đủ sự thiêng liêng của nhiệm vụ và cái thương mến giữa đất liền với đảo xa.
Nghệ thuật thơ của Nguyễn Hưng Hải nằm ở sự tiết chế: Không cần giãi bày, chỉ đặt hai chuyển động trái chiều vào cùng một câu thơ, để cảm xúc tự bật lên. Và trên những con tàu ấy, điều được “mang theo” không phải là danh mục hàng hóa, mà là “tấm lòng” - một khái niệm ân tình đến mức không cần giải thích. Con tàu ấy ra đi là để “gửi gắm” và đặt trọn niềm tin yêu vào trùng khơi phía trước:
“Những chuyến tàu sắp Tết lại ra khơi
Mang theo tấm lòng của đất liền gửi gắm
Mang câu hát lên tàu không sợ gì bão sóng
Em đến với Trường Sa cho đảo bớt khô cằn”.
Điệp từ “mang” được lặp đi lặp lại ngỡ như nhịp chân lên cầu tàu, như nhịp máy tàu khởi động, như những đợt sóng nối nhau băng băng hướng về phía trước. Nhưng cái “mang” làm nên linh hồn bài thơ là “Mang câu hát lên tàu không sợ gì bão sóng”.
Ở đây, nhà thơ tạo một thế đối diện giàu tính biểu tượng: Câu hát vốn mong manh, vô hình lại đối diện trước bão sóng hữu hình và dữ dội. Vậy mà câu hát “không sợ”, cứ hồn nhiên từ đất liền ra đảo. Phép nhân hóa làm cho “câu hát” có trái tim, có dũng khí, đồng thời hé mở một chân lý dịu dàng: Có những sức mạnh không cần cơ bắp, chỉ cần tình yêu.
Ngay sau đó, hình tượng “em” xuất hiện: “Em đến với Trường Sa cho đảo bớt khô cằn”. Một câu thơ vừa tả thực vừa ẩn dụ. Trường Sa khô cằn vì tự nhiên khắc nghiệt, nhưng cũng khô cằn vì thiếu những mềm mại của đời sống. Em đến như một nguồn nước mát, đủ để đất đá bớt cằn khô và đời sống những người lính nơi đây càng thêm thi vị.
Nối tiếp mạch cảm xúc, khổ thơ thứ hai của thi phẩm đi sâu vào đời sống nhân sinh nơi Trường Sa nắng gió bằng một so sánh tưởng đơn giản, song lại đầy ám ảnh: “Có thể thiếu mớ rau nhưng không thể không cần câu hát”. Rau xanh là nhu cầu thiết yếu của bữa cơm hàng ngày, vậy mà có thể thiếu; nhưng câu hát dịu dàng, chỉ biểu tượng cho tinh thần lại không thể không có.
Một phép đảo giá trị táo bạo, nâng đời sống tinh thần lên ngang hàng sự sống. Quả vậy, chính câu hát “làm các anh vơi đi niềm khô khát”. Khô khát ở đây không chỉ là khát nước ngọt, mà là khát hơi ấm, khát tiếng người, khát một mảnh tình cảm bình yên chia sẻ.
Nhà thơ không tô vẽ người lính thành tượng đài vô cảm, ông trả họ về đúng vị trí con người - những con người đích thực, cũng cần được sự vỗ về, yêu ái. Và khi nói “các anh vẫn thường hát cho nhau nghe khi không có em” càng làm cho ý thơ đẹp hơn, khẳng định nội lực tinh thần của người lính, đồng thời làm nổi bật giá trị của tiếng hát em như một sự bù đắp trọn vẹn trong những ngày Tết đến xuân về:
“Tết Trường Sa bao nhiêu thứ đang cần
Có thể thiếu mớ rau nhưng không thể không cần câu hát
Câu hát làm các anh vơi đi niềm khô khát
Các anh vẫn thường hát cho nhau nghe khi không có em”.
Khổ thơ thứ ba là cao trào cảm xúc, nơi điệp ngữ “chỉ có em” vang lên như nhịp gõ cửa trái tim. “Chỉ có em mới có thể làm cho đá mềm đi, cho sóng dịu êm” như một ẩn dụ đẹp, nghịch lý mà thuyết phục. Thơ không chứng minh bằng khoa học, thơ nói bằng sự thật tâm hồn.
Đá và sóng ở đây vừa là thiên nhiên, vừa là ẩn dụ cho khắc nghiệt đời lính đảo, cho những cô đơn không gọi tên. Em, đại diện cho nữ tính, cho cái đẹp, cho sự sống mềm mại, đó là thứ có khả năng cảm hóa những góc cạnh. Và rồi, nhà thơ nói thẳng một sự thật ít khi được gọi tên: “Nơi quanh năm không có bóng đàn bà, con gái”.
Câu thơ mộc, không trau chuốt, nhưng chính sự trực diện ấy lại làm cho Trường Sa hiện ra gần hơn, người hơn. Để rồi, “Chỉ có em mới làm cho nỗi nhớ đất liền của các anh chùng lại”. Nỗi nhớ không biến mất, chỉ chùng đi, dịu lại, có chỗ neo. Dấu ba chấm trong “Nếu cũng như ai đó ngại ngần… em đã không ra” là một khoảng lặng nghệ thuật: Nó gợi vô vàn lý do để do dự, và làm nổi bật một lựa chọn dứt khoát của tâm hồn em:
“Chỉ có em mới có thể làm đá mềm đi, cho sóng ấm lên
Chỉ có em mới làm cho nỗi nhớ đất liền các anh chùng lại
Nơi quanh năm thiếu bóng đàn bà, con gái
Nếu cũng như ai đó ngại ngần… em đã không ra”.

NSƯT Mai Lan (Nhà hát Chèo Bắc Giang) hát tặng chiến sĩ trên đảo Sinh Tồn Đông (Đặc khu Trường Sa) dịp công tác tháng 4/2024. Ảnh: Bình Thanh.
Vòng tròn tinh tế
Khổ thứ tư quay về hình ảnh con tàu, tạo kết cấu vòng tròn tinh tế. Nhưng cảm xúc không lặp lại, nó được làm sâu bằng một nỗi lo rất người: “Em chỉ sợ không hát được cho các anh nghe vì mất giọng”. Trong bão sóng, em không sợ biển, không sợ gian lao, em chỉ sợ… không làm trọn điều yêu thương.
Chính nỗi sợ nhỏ bé ấy khiến “em” bước ra khỏi biểu tượng để trở thành một con người. Và khi câu thơ “Bão sóng làm sao cản được trái tim em” vang lên, bão sóng đã chuyển nghĩa: Từ sóng biển sang sóng thử thách mà buộc lòng trái tim em phải vượt qua:
“Mang câu hát lên tàu em đến Trường Sa
Mang theo cả tấm lòng của đất liền gửi gắm
Em chỉ sợ không hát được cho các anh nghe vì mất giọng
Bão sóng làm sao cản được trái tim em”.
Khổ thơ cuối mở ra một không gian cảm xúc rộng lớn hơn, nơi câu hát không còn thuộc về riêng em mà lan tỏa thành mạch ngầm nối liền đảo xa với đất liền thương nhớ. Đất liền ở đây không chỉ là địa danh, nó trở thành nơi chốn tinh thần: Là vòng tay, ký ức, sự sống đời thường mà những người lính đảo phải tạm gác lại phía sau. Nhưng bất ngờ và đẹp đẽ thay, ý thơ không dừng ở chiều trao gửi một chiều ấy.
Bằng một phép hoán dụ giàu chất thơ, nhà thơ đảo chiều cảm xúc: “Các anh là đất liền của lòng em”. Đất liền không còn ở phía sau lưng người lính, mà hiện diện ngay trong dáng đứng của họ, trong sự bền bỉ canh giữ biển trời, trong niềm tin lặng lẽ mà họ trao cho những trái tim ở lại.
Người lính vừa là điểm đến của yêu thương, vừa là nơi nương tựa tinh thần cho hậu phương mãi mãi. Những con tàu vượt sóng dữ vì thế không chỉ chở hàng hóa hay nhiệm vụ, mà còn chở theo bao ánh nhìn, bao nhịp tim của những người con gái dịu dàng như “em”.
Nếu đầu bài, em mang câu hát ra đảo, thì cuối bài, em lặng đi trước một bài ca lớn hơn - bài ca mang hình hài người lính. Một cái kết khiêm nhường, giàu kính trọng, khiến tiếng hát không cất thành âm thanh, mà ngân lên thành niềm biết ơn và yêu thương bền bỉ giữa trùng khơi:
“Chỉ mong giữa Trường Sa các anh gặp đất liền
Các anh là đất liền của lòng em, của bao niềm thương nhớ
Những chuyến tàu như cũng vì em,
vì bao người con gái như em mà vượt lên sóng dữ
Bởi các anh là bài ca Trường Sa em chưa hát bao giờ”.
Về nghệ thuật, bài thơ thành công ở kết cấu vòng tròn, ở điệp từ “mang” tạo nhịp hành trình, ở hệ ẩn dụ giàu sức gợi (“đá mềm”, “sóng dịu”, “đất liền của lòng em”), ở giọng điệu chân thành, không lên gân. Về tư tưởng, bài thơ làm mới đề tài biển đảo bằng cách đặt đời sống tinh thần vào trung tâm, tôn vinh vai trò của người phụ nữ như nguồn nước mát làm cho đá mềm và sóng gió dịu êm.
Và trên hết, bài thơ khiến ta tin rằng giữa biển lớn, đôi khi không phải khẩu hiệu hay dáng đứng tượng đài, mà chính một câu hát, một biểu tượng của cái đẹp, có thể làm mềm lại lòng người, làm dịu những con sóng của cô đơn và nối liền đảo xa với đất liền bằng cây cầu mang tên thương nhớ.
“Mang câu hát đến Trường Sa” của Nguyễn Hưng Hải khép lại bằng một phát hiện thẳm sâu và rất đẹp: Tiếng hát mà em mang theo hóa ra chỉ là cái cớ để bộc lộ một bài ca lớn hơn – bài ca mang dáng hình người lính đảo. Giữa mênh mông gió nước, các anh không chỉ là người giữ biển, mà còn là nơi neo đậu cảm xúc, là “đất liền” của những trái tim ở lại.
Và vì thế, câu hát chưa kịp cất lên đã trở thành sự lắng nghe thành kính; lời ca chưa ngân nga đã hóa thành niềm yêu thương da diết, tròn đầy. Thi phẩm khép lại nhẹ như một làn gió xuân trên sóng, nhưng dư âm của nó thì ở lại rất lâu và nhắc ta tin rằng: Để nối liền đảo xa với đất liền, không cần những tượng đài cao lớn, chỉ cần một trái tim biết hát và biết yêu đến tận cùng gan ruột của mình.











