Cấm trưng bày thuốc lá: Tránh tình trạng 'cấm mà như không cấm'
Đề xuất cấm trưng bày thuốc lá trong dự thảo sửa đổi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá được đánh giá là bước tiến cần thiết nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là ngăn ngừa thế hệ trẻ tiếp cận với sản phẩm độc hại.
Tuy nhiên, để một chính sách thiết thực không dừng lại ở những quy định trên giấy, vấn đề cốt lõi không chỉ nằm ở việc thay đổi quầy kệ, mà đòi hỏi một hệ thống giải pháp đồng bộ từ hướng dẫn kỹ thuật, lộ trình chuyển đổi đến cơ chế kiểm tra, giám sát nghiêm ngặt của cơ quan Nhà nước. Làm thế nào để quy định được thực thi thống nhất, tránh tình trạng tuân thủ mang tính hình thức là bài toán quản lý đang đặt ra. Bởi, mục tiêu của cấm trưng bày là hạn chế việc công chúng, đặc biệt là người chưa đủ 18 tuổi, tiếp xúc với hình ảnh sản phẩm tại nơi mua hàng.
Tại nghị trường Quốc hội chương trình Kỳ họp thứ hai, khóa XVI, các đại biểu lưu ý cơ quan soạn thảo cần hoàn thiện căn cứ khoa học, tiêu chuẩn kỹ thuật và đánh giá kỹ tính khả thi của đề xuất cấm trưng bày. Các đại biểu nhấn mạnh yêu cầu phân biệt rõ hành vi trưng bày với hoạt động giao dịch hợp pháp, tránh tình trạng “cấm mà như không cấm”, đảm bảo cơ quan chức năng có căn cứ vững chắc để kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm.
Quy định rõ để thực hiện đúng
Theo các chuyên gia, để lệnh cấm đi vào đời sống, cơ quan quản lý cần ban hành các tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật cụ thể, giúp phân định rõ hành vi bị cấm và thao tác bán hàng hợp pháp.

Việc thiếu thước đo chuẩn xác dễ biến quy định thành “lệnh cấm trên giấy” đồng thời dẫn đến việc xử phạt tùy tiện và vô tình tạo kẽ hở cho thuốc lá lậu hoạt động.
Đại biểu Quốc hội Trần Văn Khải (Đoàn Ninh Bình) nhìn nhận, sau khi sửa đổi, các nội dung trong Luật phải đảm bảo yếu tố rõ ràng, khả thi và chi phí tuân thủ thấp. Theo đại biểu, nếu cấm tuyệt đối mà thiếu hướng dẫn chuẩn mực về cách thức che chắn sản phẩm, cách cất giữ hay lấy hàng sẽ khiến người bán gặp lúng túng trong khi thực hiện quy định trên. Trên thực tế, việc thiếu thước đo chuẩn xác dễ biến quy định thành “lệnh cấm trên giấy” đồng thời dẫn đến việc xử phạt tùy tiện và vô tình tạo kẽ hở cho thuốc lá lậu hoạt động.
Theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Hoàng Dũng, phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật cần tập trung vào nơi thực sự phát sinh rủi ro tiếp xúc với cộng đồng. Ông chỉ ra kinh nghiệm quốc tế như ở Anh, Australia hay New Zealand đều thiết kế lệnh cấm dưới dạng “cấm trưng bày tại điểm bán lẻ”, yêu cầu sản phẩm nằm ngoài tầm nhìn của công chúng tại các cửa hàng, nơi người tiêu dùng trực tiếp lui tới. Các quốc gia này không áp dụng máy móc cho cơ sở bán buôn, lưu kho, đây là nơi không giao dịch trực tiếp với người dùng cuối. Việc phân định rõ sẽ giúp cơ quan quản lý không dàn trải lực lượng, tập trung kiểm soát chặt chẽ tại các điểm bán lẻ.
Cùng với quy định minh bạch, một lộ trình chuyển tiếp đồng bộ là giải pháp mang tính chiến lược. Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn Hải Phòng) cho rằng, thời gian chuyển tiếp phải dựa trên đánh giá tác động thực tế và khả năng đáp ứng của thị trường.
“Để chính sách thực thi hiệu quả, cần đi kèm lộ trình phù hợp và những giải pháp hỗ trợ người kinh doanh, nhất là các hộ nhỏ lẻ, thích ứng với quy định mới”, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nhấn mạnh.
Đồng tình với quan điểm này, Luật sư Hoàng Hà, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, ủng hộ phương án dành khoảng 18-24 tháng làm giai đoạn chuyển đổi dựa trên cơ sở đánh giá các tác động thực tế. Trong thời gian này, cơ quan quản lý có thể tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn, tập huấn và lựa chọn thí điểm tại một số địa bàn. Việc thí điểm giúp cơ quan chức năng đo lường hiệu quả, hoàn thiện các bộ tiêu chuẩn về che chắn trước khi áp dụng trên toàn quốc đồng thời giúp nhà bán lẻ có đủ thời gian thay đổi thói quen và sắp xếp lại quầy hàng.
Tăng cường giám sát
Hiệu lực, hiệu quả của một chính sách y tế công cộng phụ thuộc phần lớn vào công tác giám sát, hậu kiểm và xử lý vi phạm. Khi cấm trưng bày, thách thức lớn nhất của lực lượng quản lý là làm sao giám sát được mức độ tuân thủ tại hàng trăm ngàn điểm bán nhỏ lẻ đan xen trong các khu dân cư.
Đại biểu Quốc hội Trần Văn Khải cho biết, theo giải trình của cơ quan soạn thảo, việc hiển thị tên và giá cũng bị cấm, điều này vô hình trung vượt quá hướng dẫn của thông tư hiện hành (cho phép liệt kê bằng chữ, tên sản phẩm và giá); đồng thời mâu thuẫn với nghĩa vụ niêm yết tại Luật Giá và quyền được thông tin của người tiêu dùng tại Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Các địa phương cần chủ động tổ chức tuyên truyền, ký cam kết với từng hộ kinh doanh và thiết lập kênh tiếp nhận phản ánh vi phạm từ người dân.
Do đó, các chuyên gia cho rằng cần có hướng dẫn rõ cách cung cấp thông tin tối thiểu về tên sản phẩm, giá bán cho người mua hợp pháp (ví dụ liệt kê bằng chữ, không có hình ảnh). Sự minh bạch này giúp lực lượng thanh tra phân biệt rõ giao dịch đúng luật với hành vi lén lút quảng cáo hoặc buôn lậu.
Bên cạnh đó, để giảm tỷ lệ tiếp xúc thuốc lá ở trẻ em, cần sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền cơ sở. Trách nhiệm kiểm tra không thể phó mặc cho lực lượng quản lý thị trường, mà cần gắn với vai trò giám sát thường xuyên của UBND cấp xã, phường. Các địa phương cần chủ động tổ chức tuyên truyền, ký cam kết với từng hộ kinh doanh và thiết lập kênh tiếp nhận phản ánh vi phạm từ người dân.
Đồng thời, việc dự thảo bãi bỏ nghĩa vụ treo biển thông báo "Không bán thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi" tại điểm bán từng bị đánh giá là một "bước lùi" so với yêu cầu bảo vệ trẻ em. Việc duy trì các cảnh báo trực quan này, kết hợp chặt chẽ với quy định cấm trưng bày sản phẩm, sẽ tạo thành một lớp rào chắn kép, vừa hạn chế kích thích thị giác, vừa răn đe mạnh mẽ các hành vi tiếp tay cho trẻ em mua thuốc lá.
Mục tiêu bảo vệ sức khỏe cộng đồng đòi hỏi các biện pháp kiểm soát thuốc lá phải được triển khai thực chất và có thể đánh giá hiệu quả. Theo các chuyên gia lệnh cấm chỉ phát huy tác dụng khi tạo được những chuyển biến có thể kiểm chứng trong công tác quản lý thị trường và bảo vệ sức khỏe nhân dân, thay vì chỉ thay đổi cách bố trí quầy kệ. Đề xuất cấm trưng bày thuốc lá chỉ có thể mang lại thành công khi được song hành cùng một hệ thống giải pháp thực thi đồng bộ, minh bạch, có hướng dẫn chi tiết và cơ chế hậu kiểm kiên quyết từ các cơ quan quản lý Nhà nước.

