Cân bằng giữa bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân và bảo vệ an ninh quốc gia, bí mật Nhà nước
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 12/4, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Theo ý kiến đại biểu Quốc hội, dự thảo Luật đã đạt được sự cân bằng giữa việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân và việc bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bí mật Nhà nước, bảo vệ dữ liệu cá nhân theo chuẩn mực pháp lý hiện đại.
Phát biểu tại phiên họp, đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà (Đoàn TP Hà Nội) nhận định, dự thảo Luật đã đạt được sự cân bằng giữa việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân và việc bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bí mật Nhà nước, bảo vệ dữ liệu cá nhân theo chuẩn mực pháp lý hiện đại.
Để dự thảo Luật khi ban hành thực sự đi vào cuộc sống, không bị vướng mắc trong khâu thực thi, góp ý vào một số nội dung cụ thể, đại biểu nêu quy định tại khoản 4 Điều 10 dự thảo Luật; theo đó, đối với hồ sơ, tài liệu có chứa cả thông tin công dân không được tiếp cận và thông tin được tiếp cận, các cơ quan, đơn vị sẽ xem xét, quyết định cung cấp một phần hồ sơ, tài liệu phần thông tin công dân được tiếp cận nếu có thể phân tách hợp lý.
Theo đại biểu, việc “bóc tách” thông tin là một quy định rất nhân văn nhằm tối đa hóa quyền tiếp cận của người dân. Tuy nhiên, theo đại biểu, cụm từ "có thể được phân tách hợp lý" và "xem xét, quyết định" còn khá chung chung.
Để bảo đảm tính khả thi và tránh tình trạng cơ quan có trách nhiệm lấy lý do "không thể phân tách" để từ chối cung cấp toàn bộ tài liệu, đại biểu đề nghị bổ sung quy định giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết tiêu chí, quy trình kỹ thuật để phân tách thông tin, hoặc quy định rõ cơ quan từ chối phải có văn bản giải trình lý do không thể phân tách hợp lý để buộc các cơ quan phải nâng cao trách nhiệm trong việc rà soát và xử lý tài liệu.
Về quy định về hình thức, thời điểm công khai thông tin, khoản 4 Điều 18 dự thảo Luật quy định thời điểm công khai thông tin đối với trường hợp pháp luật chưa có quy định là chậm nhất 5 ngày làm việc kể từ ngày tạo ra thông tin.
Theo đại biểu, thời hạn 5 ngày làm việc là hợp lý đối với các thông tin hành chính thông thường. Tuy nhiên, dự thảo Luật cũng quy định phải công khai các thông tin có tính chất cấp bách như thông tin về sự cố môi trường, thu hồi sản phẩm tác động tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng, thiên tai, dịch bệnh.
“Đối với những thông tin này, nếu chờ đến 5 ngày làm việc mới công khai thì có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng cho xã hội. Do đó, tôi kiến nghị bổ sung một khoản ngoại lệ tại Điều 18 yêu cầu: "Đối với các thông tin liên quan đến việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe cộng đồng, sự cố môi trường, thiên tai, thảm họa, cơ quan nhà nước có trách nhiệm phải công khai ngay lập tức hoặc chậm nhất trong vòng 24 giờ kể từ khi tạo ra hoặc tiếp nhận thông tin””, đại biểu nói.
Cơ bản nhất trí với sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn TP Hải Phòng) cho rằng, việc sửa luật lần này không chỉ là sửa một đạo luật về thủ tục cung cấp thông tin, mà là hoàn thiện nền tảng pháp lý cho quản trị công khai, minh bạch trong kỷ nguyên số.
Góp ý về nội dung quy định về nguyên tắc thực hiện quyền tiếp cận thông tin, tại khoản 3, Điều 3 của dự thảo quy định: “Việc cung cấp thông tin phải đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, tăng cường cung cấp thông tin trên môi trường số; bảo đảm việc cung cấp thông tin kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đánh giá, cách quy định này mới dừng ở mức định hướng, thể hiện tinh thần “đẩy mạnh”, “tăng cường” ứng dụng công nghệ thông tin nhưng chưa tạo ra nghĩa vụ pháp lý đủ rõ.
Trong khi đó, nếu đã xác định xây dựng Nhà nước số, thì công khai thông tin trên môi trường số phải được xem là phương thức chủ yếu, chứ không nên chỉ là phương thức khuyến khích.
Do đó, đại biểu đề nghị nghiên cứu sửa khoản 3 Điều 3 theo hướng nhấn mạnh hơn trách nhiệm công khai trên môi trường số, ít nhất đối với các nhóm thông tin thuộc diện bắt buộc công khai theo Điều 17 của luật này.
Về các trường hợp thông tin công dân không được tiếp cận tại Điều 15 của dự thảo Luật, đại biểu nhấn mạnh, đây là điều khoản rất quan trọng vì liên quan trực tiếp đến ranh giới giữa bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và việc hạn chế quyền.
Góp ý cụ thể vào quy định tại khoản 4 Điều 15 của dự thảo Luật: “Trường hợp pháp luật chưa quy định, căn cứ vào điều kiện thực tiễn, người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm xem xét, quyết định việc cung cấp thông tin". Trong khi đó, khoản 4 Điều 3 của chính dự thảo đã xác định rất rõ: “Việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin phải do luật định…"; đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị rà soát lại khoản 4 Điều 15 theo hướng thu hẹp tối đa không gian quyết định mang tính chủ quan của cơ quan có thông tin; trường hợp cần thiết thì phải có tiêu chí rõ hơn, cơ chế kiểm soát chặt hơn.
Đối với nội dung về thời hạn cung cấp thông tin theo yêu cầu tại Điều 26 của dự thảo quy định thời hạn cung cấp thông tin là 10 ngày làm việc, trường hợp cần thiết có thể gia hạn nhưng tối đa không quá 10 ngày làm việc, đại biểu cho rằng quy định này có thể phù hợp với những trường hợp thông tin cần rà soát, tập hợp, xử lý phức tạp; song đối với thông tin đã có sẵn trên môi trường số, đã được số hóa, thời hạn như vậy còn dài.
Từ lý giải trên, đại biểu đề nghị nghiên cứu phân loại thời hạn cung cấp thông tin theo tính chất thông tin: thông tin có sẵn, đã số hóa thì cần rút ngắn; thông tin phức tạp thì có thể giữ thời hạn như dự thảo, để phù hợp hơn với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số.
Cho rằng Luật Tiếp cận thông tin là luật về dân chủ, trên cơ sở ý kiến cử tri, đại biểu Hoàng Thị Thanh Thúy (đoàn Tây Ninh) đề nghị thu hẹp phạm vi thông tin mật. Nếu văn bản thuộc bí mật nhà nước, thay vì từ chối tiếp cận toàn bộ văn bản thì xem xét tách nội dung phần được công khai, không nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc như trong Luật Bảo vệ bí mật nhà nước đã quy định về bí mật nhà nước để cung cấp cho công dân./.











