Cán cân quyền lực trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tại Mỹ
(NB&CL) Ngày 3/11 tới, cử tri Mỹ sẽ lựa chọn Quốc hội khóa mới cùng nhiều vị trí lãnh đạo cấp bang. Diễn ra giữa nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Donald Trump, cuộc bầu cử có thể điều chỉnh tương quan quyền lực tại Washington, tác động đến chương trình nghị sự của Nhà Trắng và định hình bước chuẩn bị cho cuộc đua Tổng thống năm 2028. Trong bối cảnh đa số tại Quốc hội Mỹ khá mong manh, những thay đổi nhỏ về số ghế cũng có thể tạo ra những thay đổi chính trị đáng kể.
Đa số mong manh và cuộc cạnh tranh quyền lực
Bầu cử giữa nhiệm kỳ là thời điểm cử tri Mỹ đánh giá kết quả điều hành và lựa chọn đại diện cho giai đoạn tiếp theo. Năm nay, toàn bộ 435 ghế Hạ viện và 35/100 ghế Thượng viện sẽ được bầu lại, tổng cộng là 470 ghế trong Quốc hội. Cùng với đó là các cuộc bầu cử thống đốc tại 36 bang và nhiều vị trí trong bộ máy chính quyền địa phương.
Trọng tâm cạnh tranh nằm ở quyền kiểm soát Quốc hội, nơi quyết định khả năng chuyển các cam kết chính trị thành luật và phân bổ nguồn lực thực hiện. Với Đảng Cộng hòa, giữ đa số là điều kiện quan trọng để duy trì sự phối hợp giữa Nhà Trắng và cơ quan lập pháp. Với Đảng Dân chủ, giành lại ít nhất một viện sẽ mở rộng khả năng tác động đến chương trình nghị sự và giám sát chính quyền.
Tại Hạ viện, Đảng Cộng hòa hiện có 218 ghế và Đảng Dân chủ có 214 ghế, ngoài ra có một nghị sĩ độc lập sinh hoạt cùng phía Cộng hòa và hai ghế còn trống. Đảng Dân chủ cần tăng ròng bốn ghế để đạt ngưỡng đa số 218 ghế. Khoảng cách này khiến một số cuộc đua sít sao có thể quyết định quyền lãnh đạo toàn viện.
Tuy nhiên, khoảng cách nhỏ không đồng nghĩa với việc chuyển giao đa số sẽ dễ dàng. Mỗi đảng vừa phải bảo vệ địa bàn hiện có, vừa tìm cách giành thêm những khu vực cạnh tranh. Tâm trạng bất mãn trên phạm vi toàn quốc chỉ tạo ra lợi thế thực tế khi được chuyển thành lá phiếu tại đúng những khu vực có khả năng đổi chiều. Bởi vậy, chất lượng ứng cử viên, tổ chức vận động và vấn đề địa phương có thể quan trọng không kém thông điệp chung.
Tại Thượng viện, Đảng Cộng hòa giữ 53 ghế, trong khi Đảng Dân chủ có 45 ghế và nhận sự phối hợp của hai thượng nghị sĩ độc lập. Phe Dân chủ cần tăng ròng bốn ghế để đạt đa số 51 ghế. Nếu tương quan dừng ở mức 50–50, quyền bỏ phiếu phá thế hòa của Phó Tổng thống JD Vance sẽ tạo lợi thế cho Đảng Cộng hòa.
Mặc dù cùng cần tăng ròng bốn ghế, nhiệm vụ của Đảng Dân chủ tại hai viện có độ khó khác nhau. Toàn bộ Hạ viện được bầu lại, trong khi chỉ một phần Thượng viện tham gia kỳ bầu cử. Vì thế, cơ hội thay đổi đa số tại Thượng viện phụ thuộc nhiều vào danh sách các bang có ghế được bầu, tương quan đảng phái tại từng bang và khả năng bảo vệ những ghế đang nắm giữ.
Sự khác biệt này giải thích vì sao một đảng có thể thắng đáng kể tại Hạ viện nhưng không đạt kết quả tương ứng ở Thượng viện. Năm 2018, Đảng Dân chủ tăng ròng 41 ghế Hạ viện nhưng mất hai ghế Thượng viện. Tiền lệ đó cho thấy bầu cử giữa nhiệm kỳ là tập hợp nhiều cuộc cạnh tranh với cấu trúc riêng, dù cùng chịu tác động từ bối cảnh chính trị quốc gia.

Đảng Cộng hòa của Tổng thống Mỹ Donald Trump đứng trước nhiều sức ép phải duy trì tỷ lệ ghế đa số tại cả hai viện của Quốc hội. Ảnh: Nhà Trắng.
Cục diện khó dự báo và sức ép với Nhà Trắng
Hệ quả đáng chú ý nhất của cuộc bầu cử là khả năng thay đổi quan hệ giữa hành pháp và lập pháp. Nếu Đảng Cộng hòa giữ cả hai viện, Tổng thống Donald Trump sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để thúc đẩy chương trình nghị sự trong hai năm cuối nhiệm kỳ. Tuy nhiên, sự thống nhất về đảng phái vẫn phải vượt qua bất đồng nội bộ về thuế, chi tiêu và ưu tiên ngân sách.
Nếu Đảng Dân chủ giành Hạ viện, Nhà Trắng sẽ phải thương lượng với một cơ quan lập pháp có chương trình làm việc khác biệt. Các ủy ban có thể tăng cường điều trần, yêu cầu cung cấp thông tin và giám sát hoạt động của chính quyền. Những quyết định ngân sách cần sự đồng thuận của cả hai viện cũng có thể trở thành trọng tâm mặc cả chính trị.
Nếu thay đổi đa số diễn ra tại Thượng viện, tác động còn thể hiện ở quy trình phê chuẩn nhiều chức danh do Tổng thống đề cử. Tuy nhiên, trong mọi kịch bản, thắng lợi của phe đối lập không đồng nghĩa với khả năng đơn phương đảo ngược chính sách. Quyền phủ quyết của Tổng thống và những yêu cầu thủ tục tại Quốc hội tiếp tục tạo ra giới hạn đối với mỗi bên.
Do đó, kết quả bầu cử cần được nhìn nhận qua khả năng hình thành đồng thuận sau ngày bỏ phiếu. Chính quyền bị chia sẻ giữa hai đảng có thể thúc đẩy thỏa hiệp nếu các bên cùng chịu sức ép giải quyết vấn đề. Ngược lại, nếu ưu tiên đối đầu lấn át động lực hợp tác, quá trình lập pháp và thông qua ngân sách có thể gặp thêm trở ngại.
Trong cuộc cạnh tranh năm nay, chi phí sinh hoạt là một phép thử nổi bật. Giá thực phẩm, nhà ở, năng lượng và dịch vụ y tế tác động trực tiếp đến cảm nhận của hộ gia đình. Khi đời sống chịu sức ép, cử tri thường đặt trách nhiệm lớn hơn lên đảng cầm quyền, cho dù biến động kinh tế có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân và độ trễ chính sách.
Đảng Dân chủ có thể tìm kiếm sự ủng hộ từ những lo ngại đó, nhưng bất mãn với chính quyền chưa tự động trở thành niềm tin dành cho phe đối lập. Để mở rộng liên minh cử tri, đảng này cần đưa ra giải pháp có sức thuyết phục. Về phía Đảng Cộng hòa, nhiệm vụ không chỉ là bảo vệ thành tích điều hành, mà còn phải giải thích khả năng cải thiện những khó khăn trước mắt.
Kết quả cuộc thăm dò dư luận Reuters/Ipsos công bố ngày 26/10 ghi nhận tỷ lệ tán thành công việc của ông Trump ở mức 32%. Con số này cho thấy sức ép đối với Nhà Trắng, nhưng không thể dùng riêng lẻ để dự báo quyền kiểm soát Quốc hội. Đánh giá tổng thống và lựa chọn nghị sĩ là hai quyết định có liên hệ nhưng không hoàn toàn trùng khớp.
Một cử tri không hài lòng với Tổng thống Mỹ vẫn có thể ủng hộ nghị sĩ cùng đảng vì uy tín cá nhân hoặc lợi ích địa phương. Ngược lại, sự ủng hộ dành cho Tổng thống cũng không bảo đảm mọi ứng cử viên của đảng cầm quyền đều được hưởng lợi. Vì thế, cần kết hợp tín hiệu toàn quốc với dữ liệu từng bang, từng khu vực và khả năng tham gia thực tế của các nhóm cử tri.
Số liệu bỏ phiếu sớm chưa đủ để dự đoán bên nào sẽ giành chiến thắng. Số người bỏ phiếu sớm tăng có thể cho thấy hoạt động vận động cử tri đạt hiệu quả, nhưng cũng có thể chỉ vì nhiều người chọn bỏ phiếu trước thay vì chờ đến ngày bầu cử chính thức. Hơn nữa, cử tri đăng ký theo một đảng không nhất thiết bỏ phiếu cho ứng cử viên của đảng đó. Vì vậy, cần xem xét cả số người đi bầu và lựa chọn thực tế của cử tri trước khi đưa ra kết luận.
Nguồn lực tài chính giúp mở rộng quảng cáo và tiếp xúc cử tri, song hiệu quả phụ thuộc vào thông điệp và mức độ phù hợp với địa bàn. Trong những cuộc đua sít sao, tiền có thể tạo khác biệt; ở nơi xu hướng đảng phái đã ổn định, chi tiêu lớn chưa chắc làm thay đổi kết quả. Vì vậy, cạnh tranh tài chính cần được đặt trong tương quan với năng lực tổ chức và uy tín ứng cử viên.
Sau cùng, cuộc bầu cử sẽ đo lường sức mạnh của hai đảng và khả năng vận hành cơ chế kiểm soát quyền lực. Từ tương quan mới ấy, cả Nhà Trắng lẫn phe đối lập sẽ phải điều chỉnh cách hành động, đồng thời chuẩn bị cho cuộc cạnh tranh năm 2028.


