Cần đòn bẩy để kinh tế xanh đi vào thực tiễn

Ý kiến từ các bên liên quan cho thấy để kinh tế xanh đi vào thực tiễn cần đồng thời tháo gỡ điểm nghẽn về thị trường, chính sách, nguồn lực và năng lực thực hiện; tăng liên kết giữa nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và cộng đồng.

Vùng ven các lưu vực sông lớn trên địa bàn thành phố có dư địa lớn để thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. TRONG ẢNH: Một góc hạ du sông Thu Bồn (xã Duy Nghĩa). Ảnh: QUỐC TUẤN

Vùng ven các lưu vực sông lớn trên địa bàn thành phố có dư địa lớn để thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. TRONG ẢNH: Một góc hạ du sông Thu Bồn (xã Duy Nghĩa). Ảnh: QUỐC TUẤN

TS. NGUYỄN ANH PHONG, PHÓ VIỆN TRƯỞNG VIỆN CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG

Tạo động lực thị trường cho chuyển đổi xanh

Từ thực tiễn triển khai, các mô hình xanh muốn phát triển bền vững cần tăng quy mô thông qua liên kết, nhất là liên kết giữa các nông hộ để hình thành quy mô sản xuất đủ lớn.

Năng lực của nhiều hợp tác xã, doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, môi trường còn hạn chế, đặc biệt xây dựng phương án kinh doanh, hồ sơ thu hút đầu tư và tiếp cận tín dụng xanh. Nhiều dự án quy mô nhỏ, thiếu vốn đối ứng và dữ liệu phục vụ thẩm định, nên khả năng hấp thụ vốn chưa cao.

Để tháo gỡ những điểm nghẽn này, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện tiêu chuẩn, định mức, hướng dẫn thực hiện; đầu tư hạ tầng dùng chung, thúc đẩy mua sắm công xanh, điều phối liên ngành và dữ liệu, bảo đảm phân bổ lợi ích hợp lý.

Các tổ chức tài chính cần thiết kế khoản vay phù hợp với dòng tiền và chu kỳ đầu tư. Doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất phải nâng cao năng lực tổ chức sản xuất, tăng thu hồi, tái sử dụng phụ phẩm, xây dựng phương án kinh doanh và sẵn sàng chia sẻ dữ liệu.

BÀ ĐOÀN THỊ KIM ANH, PHÓ CHI CỤC TRƯỞNG CHI CỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG (SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG)

Thu hẹp khoảng cách từ chính sách và thực tiễn

Ở góc độ quản lý nhà nước, rào cản lớn hiện nay là khoảng cách giữa định hướng chính sách và thực tiễn triển khai kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn gắn với bảo tồn. Các chủ trương, quy định đã được ban hành khá nhiều, song khi đi vào thực tế vẫn cần làm rõ hoạt động nào có thể triển khai, trách nhiệm của từng bên, cộng đồng tham gia và hưởng lợi ra sao, cũng như đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường bằng cách nào.

Điều cần giải quyết trước là chuyển các mục tiêu về kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn thành những chương trình hợp tác cụ thể, xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể và cách đánh giá kết quả.

Nhà khoa học, trường đại học và viện nghiên cứu cung cấp giải pháp, phương thức đánh giá; doanh nghiệp đầu tư sản xuất, kết nối thị trường; cơ quan quản lý hỗ trợ chuyên môn, pháp lý; cộng đồng trực tiếp tham gia và phải có cơ chế hưởng lợi phù hợp.

Đặc biệt, hiệu quả của một mô hình hợp tác không nên được đánh giá đơn thuần qua số lượng đơn vị tham gia. Một thước đo quan trọng là sinh kế của người dân được cải thiện ra sao khi tham gia các dự án kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và lợi ích đó có bền vững hay không. Khi quyền lợi, trách nhiệm của cộng đồng và mục tiêu bảo vệ tài nguyên được xác định rõ, chính sách mới có điều kiện đi sâu vào thực tiễn.

ÔNG TRẦN TRUNG MỸ, PHÓ GIÁM ĐỐC BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG THG FARM, TẬP ĐOÀN TH

Kinh tế tuần hoàn là hướng đi cho nông nghiệp quy mô lớn

Phát triển kinh tế tuần hoàn không nên giới hạn trong phạm vi một trang trại hay doanh nghiệp, mà cần mở rộng thành chuỗi liên kết với người dân, trong đó cộng đồng tham gia cung cấp nguyên liệu, thực hiện canh tác tuần hoàn và hưởng lợi từ chuỗi giá trị.

Để nông nghiệp xanh phát triển ở quy mô lớn, có 3 điều kiện đáng chú ý gồm: tầm nhìn dài hạn, đầu tư đồng bộ về khoa học - công nghệ và quy mô sản xuất đủ lớn để chuỗi tuần hoàn tạo ra giá trị.

Vì vậy, cần hình thành cơ chế hợp tác đa bên. Chính quyền có thể hỗ trợ tín dụng xanh, ưu đãi lãi suất, quy hoạch quỹ đất và vùng nguyên liệu rõ ràng; các viện, trường đại học nghiên cứu, chuẩn hóa quy trình tái sử dụng nước sau xử lý và phụ phẩm nông nghiệp; doanh nghiệp lớn chia sẻ công nghệ, kinh nghiệm quản lý và đào tạo kỹ thuật; cộng đồng địa phương tham gia chuỗi giá trị và hưởng lợi.

Khi các mắt xích này được kết nối, nông nghiệp quy mô lớn có thêm điều kiện tối ưu tài nguyên, giảm chất thải và bảo vệ hệ sinh thái.

BÀ BÙI THỊ KIM CÚC, CHỦ NHIỆM HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP SINH THÁI VÀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG KIM BỒNG (PHƯỜNG HỘI AN)

Cần một hệ sinh thái đủ mạnh để hợp tác xã đi xa

Từ thực tế vận hành hợp tác xã và du lịch cộng đồng, khó khăn lớn nhất không riêng vốn, thị trường hay chính sách, mà là làm sao kết nối được một hệ sinh thái đủ mạnh để hợp tác xã có thể đi xa hơn.

Hợp tác xã kết nối hệ sinh thái, không gian làng quê, làng nghề truyền thống, đời sống ven sông cùng những tri thức bản địa thành sản phẩm du lịch học tập cộng đồng; qua đó tạo thêm sinh kế cho người dân gắn với gìn giữ bản sắc và tài nguyên thiên nhiên.

Tuy nhiên, để mô hình phát triển cần nguồn vốn phù hợp cho đầu tư dài hạn; doanh nghiệp đồng hành kết nối thị trường để sản phẩm của người dân có đầu ra ổn định; các trường đại học, nhà khoa học hỗ trợ hoàn thiện sản phẩm, chuyển tải câu chuyện và giá trị bản địa đến du khách.

Một vấn đề rất quan trọng nữa là làm sao để thu hút người trẻ, đây là lực lượng lao động có thể mang công nghệ, sáng kiến và cách làm mới vào làng nghề...

QUỐC TUẤN

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/can-don-bay-de-kinh-te-xanh-di-vao-thuc-tien-3353961.html