Thiết kế chính sách phải tính trước khả năng thực thi
Theo PGS. TS. NGUYỄN THƯỜNG LẠNG, Giảng viên cao cấp, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân), những yêu cầu Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đặt ra về chất lượng lập pháp đòi hỏi chuyển từ xử lý từng điểm nghẽn sang cách tiếp cận tổng thể, liên thông, tính đến khả năng thực thi và những mô hình kinh tế mới ngay từ khi thiết kế chính sách.
Chuyển từ “gỡ từng điểm nghẽn” sang tư duy hệ thống, liên thông
-Phát biểu khai mạc Hội nghị ĐBQH hoạt động chuyên trách lần thứ Nhất, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh, xây dựng luật phải bắt đầu từ chất lượng chính sách, không bắt đầu từ số lượng điều khoản. Ông nhìn nhận thế nào về yêu cầu này?
- Đây là quan điểm thể hiện rõ tư duy xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển, phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Một đạo luật muốn đi vào cuộc sống thì trước hết chính sách phải đúng, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và giải quyết được vấn đề thực tiễn đặt ra. Trên nền tảng đó mới thiết kế các quy định cụ thể, bảo đảm rõ ràng, minh bạch, khả thi và bảo vệ tốt quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.

PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng, Giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân). Ảnh: Nguyễn Hạnh
"Đánh giá tác động không nên dừng lại trước khi ban hành mà phải tiếp tục trong quá trình thực thi. Có như vậy, những bất cập mới được nhận diện, điều chỉnh kịp thời, để pháp luật thực sự đi vào cuộc sống".
Trong một Nhà nước kiến tạo, pháp luật không chỉ là công cụ quản lý mà còn phải tạo không gian cho phát triển, nhất là đổi mới sáng tạo, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và các mô hình kinh tế mới. Nếu chính sách không theo kịp thực tiễn hoặc quy định quá chặt theo hướng hạn chế cái mới, pháp luật có thể trở thành rào cản thay vì tạo động lực phát triển.
Vì vậy, yêu cầu “chắc từ chính sách, chặt trong quy định” rất quan trọng. Khi chính sách đúng, quy định rõ ràng, ổn định và có khả năng dự báo, niềm tin của người dân, doanh nghiệp được củng cố, các nguồn lực xã hội cũng được huy động tốt hơn. Với nhà đầu tư quốc tế, đây cũng là điều kiện quan trọng để họ đầu tư và gắn bó lâu dài với Việt Nam.
- Chủ tịch Quốc hội cũng yêu cầu “làm luật trong tư duy hệ thống”. Theo ông, cách tiếp cận này có ý nghĩa như thế nào đối với môi trường đầu tư, kinh doanh?
- Đây là yêu cầu hết sức xác đáng! Bởi vướng mắc của doanh nghiệp nhiều khi không nằm ở một điều luật riêng lẻ mà liên quan đến nhiều quy định, nhiều lĩnh vực. Nếu chỉ sửa từng điểm mà không xem xét mối quan hệ với toàn bộ hệ thống pháp luật thì có thể tháo được vướng mắc này nhưng lại phát sinh vướng mắc khác. Yêu cầu này càng quan trọng khi công nghệ, kinh tế số và các mô hình kinh doanh mới thay đổi rất nhanh.
Vì vậy, cần chuyển từ tư duy “gỡ từng điểm nghẽn” sang tư duy hệ thống, liên thông; đồng thời tăng cường những cách tiếp cận như cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, hậu kiểm, giảm tư duy “không quản được thì cấm”. Pháp luật cũng phải lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, dễ tiếp cận, dễ hiểu, dễ thực hiện. Tuân thủ pháp luật không nên trở thành gánh nặng mà phải trở thành một phần của văn hóa kinh doanh. Khi môi trường pháp lý thuận lợi, doanh nghiệp sẽ mạnh dạn đầu tư dài hạn, mở rộng quy mô và nâng cao sức cạnh tranh.
Luật tốt phải giải phóng được nguồn lực và củng cố niềm tin
- Một thông điệp đáng chú ý là phải “nhìn từng quy định từ phía thực thi”, xác định rõ ai làm, ai chịu trách nhiệm và nguồn lực ở đâu. Theo ông, cần làm gì để nguyên tắc này đi vào ngay từ khâu xây dựng pháp luật?
- Tư duy này rất đúng và quan trọng. Thực tế vẫn có tình trạng quy định một đường, thực thi một nẻo do chưa xác định rõ ai làm, ai chịu trách nhiệm và nguồn lực ở đâu. Có trường hợp luật phải chờ nghị định, nghị định chờ thông tư, khiến quy định chưa thể vận hành ngay khi có hiệu lực.
Vì vậy, ngay từ khi xây dựng luật phải trả lời rõ: ai thực hiện, cấp nào thực hiện, ai theo dõi, ai chịu trách nhiệm và nguồn lực ở đâu. Đánh giá tác động cũng phải đầy đủ, khoa học, lượng hóa được tác động về kinh tế, xã hội, môi trường và đối với từng nhóm chịu ảnh hưởng.

Pháp luật phải tạo điều kiện cho những động lực tăng trưởng mới. Ảnh: Nguyễn Huế
Với những chính sách mới, cần mở rộng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát để kiểm chứng tính khả thi, phát hiện bất cập và điều chỉnh trước khi áp dụng rộng. Đồng thời, phải tăng cường phối hợp giữa cơ quan xây dựng, thực thi, kiểm soát pháp luật với doanh nghiệp và xã hội; có cơ chế phản hồi thường xuyên để kịp thời điều chỉnh những quy định không còn phù hợp.
- Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh không lấy tiến độ thay cho chất lượng, không lấy số lượng luật được thông qua làm thước đo thành công. Theo ông, cần dựa vào những tiêu chí nào để đánh giá một đạo luật sau khi đi vào cuộc sống?
- Trước hết, pháp luật phải rõ ràng, minh bạch, có tính hệ thống, không chồng chéo, mâu thuẫn hoặc tạo ra những cách hiểu khác nhau. Nhưng như vậy vẫn chưa đủ. Quan trọng hơn là phải nhìn vào kết quả thực tế, xem đối tượng chịu tác động có thực sự phát triển hay không.
Chẳng hạn, luật về thương mại điện tử phải tạo điều kiện cho thương mại điện tử phát triển; pháp luật về kinh tế số phải góp phần mở rộng kinh tế số; pháp luật về doanh nghiệp phải tạo điều kiện để doanh nghiệp thành lập, lớn lên và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Vì vậy, cần nhìn vào những chỉ số cụ thể: chi phí tuân thủ có giảm không, thời gian thực hiện thủ tục có rút ngắn không, các nguồn lực có được khơi thông không, doanh nghiệp có phát triển cả về quy mô và chất lượng không, tài năng và sức sáng tạo có được phát huy không.
Xa hơn, pháp luật phải tạo điều kiện cho những động lực tăng trưởng mới như kinh tế số, kinh tế xanh, đổi mới sáng tạo, công nghệ chiến lược và các ngành kinh tế mới. Luật tốt phải giải phóng được nguồn lực, khơi dậy sức sáng tạo và củng cố niềm tin để người dân, doanh nghiệp đầu tư dài hạn.
- Xin cảm ơn ông!
