Cần giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng để bảo đảm tăng trưởng bền vững
Đại biểu Phạm Ngọc Lâm cảnh báo tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam đang tăng nhanh, tiềm ẩn rủi ro đối với hệ thống tài chính, ngân hàng. Đại biểu đề nghị đa dạng hóa các kênh huy động vốn, phát triển thị trường vốn trung và dài hạn, giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Sáng 31-10, Quốc hội khóa XVI tiếp tục chương trình làm việc của kỳ họp thứ 2 với phiên thảo luận ở hội trường về tình hình kinh tế - xã hội. Đại biểu (ĐB) Phạm Ngọc Lâm (thành viên Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai) tập trung phân tích mức độ phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, xu hướng gia tăng tỷ lệ tín dụng/GDP và những rủi ro có thể phát sinh đối với nền kinh tế.

Quang cảnh phiên thảo luận tại hội trường sáng 31-10. Ảnh: quochoi.vn
Theo đại biểu, giai đoạn 2023 - 2025, tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn tốc độ tăng GDP thực hơn 2 lần. Năm 2026, tỷ lệ này ước khoảng 1,5 - 1,7 lần. Tuy nhiên, không thể chỉ căn cứ vào tương quan giữa hai chỉ tiêu để kết luận hiệu quả sử dụng tín dụng tăng hay giảm, bởi chúng không cùng thước đo và tăng trưởng kinh tế còn chịu tác động từ dòng vốn tín dụng, đầu tư của những năm trước.
Điều đáng quan tâm, theo ĐB Lâm là mức độ phụ thuộc của nền kinh tế vào việc mở rộng tín dụng để duy trì tăng trưởng.

ĐB Phạm Ngọc Lâm cho rằng cần giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng để bảo đảm tăng trưởng bền vững. Ảnh: Đoàn ĐBQH tỉnh Gia Lai
Tỷ lệ tín dụng/GDP tăng từ 124% năm 2022 lên 145% năm 2025 và dự kiến khoảng 155% năm 2026. Trong khi đó, mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 và 2027 đều trên 10%. Nếu tiếp tục dựa nhiều vào tín dụng ngân hàng, tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2027 có thể lên khoảng 160 - 165%.
“Đây là kịch bản tính toán, không phải chỉ tiêu điều hành, nhưng cần được lưu tâm trong hoạch định chính sách” - ĐB Lâm nêu rõ.
Theo ĐB Phạm Ngọc Lâm, những rủi ro từ việc gia tăng tỷ lệ tín dụng/GDP đã được các tổ chức quốc tế cảnh báo. Trong Báo cáo kinh tế Việt Nam tháng 5-2026, Ngân hàng Thế giới đánh giá tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam thuộc nhóm cao nhất ASEAN theo phạm vi và thời kỳ số liệu của báo cáo.
Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cũng nhận định rủi ro hệ thống tài chính vẫn ở mức cao, đồng thời khuyến nghị Việt Nam tăng cường bộ đệm vốn, thanh khoản và năng lực giám sát an toàn vĩ mô. Bản theo dõi kinh tế Việt Nam tháng 10-2026 của Ngân hàng Thế giới tiếp tục lưu ý nguy cơ tái cấp vốn trái phiếu bất động sản và khả năng rủi ro lan truyền sang hệ thống ngân hàng.
Theo đại biểu, nhiều nghiên cứu cho rằng tỷ lệ tín dụng/GDP trong khoảng 120 - 150% thuộc nhóm cảnh báo rủi ro cao. Bên cạnh đó, theo phương pháp của Ủy ban Basel, chỉ số khoảng cách tín dụng so với xu hướng dài hạn có ngưỡng cảnh báo nguy hiểm khoảng 10%.
Các kết quả tính toán đối với Việt Nam có thể khác nhau do phương pháp và chuỗi dữ liệu, nhưng đều cho thấy xu hướng gia tăng trong những năm gần đây; năm 2026 và dự báo năm 2027, chỉ số này đang tiến dần đến ngưỡng cảnh báo.
Đại biểu nhấn mạnh, tỷ lệ tín dụng/GDP cao không đồng nghĩa với nguy cơ khủng hoảng. Vấn đề cốt lõi là sự tích tụ rủi ro trong nhiều năm, khi tăng trưởng tín dụng có thể vượt khả năng hấp thụ vốn hiệu quả, nguồn vốn dài hạn chưa đáp ứng nhu cầu và chất lượng tài sản của các ngân hàng chịu sức ép.
Nếu quy mô vốn tiếp tục mở rộng nhưng năng suất, dòng tiền và khả năng trả nợ không tăng tương xứng, rủi ro có thể lan từ thị trường bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp sang hệ thống ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế; kéo theo nguy cơ hình thành bong bóng tài sản và nợ xấu tiềm ẩn.
Từ những phân tích trên, ĐB Phạm Ngọc Lâm đề nghị Chính phủ chỉ đạo tập trung thực hiện 3 nhóm giải pháp.
Thứ nhất, cần làm rõ kịch bản nguồn vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng năm 2027. Trong đó, phải thể hiện đồng thời các chỉ tiêu về GDP thực, GDP danh nghĩa, vốn đầu tư toàn xã hội, mức tăng tín dụng dự kiến và nguồn vốn thực chất huy động từ thị trường cổ phiếu, trái phiếu cùng các kênh khác.

Các thành viên Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai tham gia phiên thảo luận tại hội trường sáng 31-10. Ảnh: Khánh Duy/baodaibieunhandan
Trên cơ sở đó, tính toán tỷ lệ tín dụng/GDP tương ứng, giải trình khả năng đạt mục tiêu tăng trưởng trên 10% mà không phải tiếp tục gia tăng mạnh mức độ phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng. Đồng thời, bảo đảm sự đồng bộ, gắn kết giữa dự thảo Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự thảo Nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách Trung ương năm 2027.
Thứ hai, sử dụng chỉ số khoảng cách tín dụng so với xu hướng dài hạn làm công cụ tham chiếu trong điều hành; chủ động triển khai các biện pháp phòng vệ, tăng cường giám sát những chỉ báo rủi ro theo khuyến nghị của Ủy ban Basel III.
Đại biểu cũng đề nghị thực hiện phân tích, đánh giá sức chịu đựng của hệ thống tài chính, xây dựng kịch bản ứng phó với các cú sốc về lãi suất, tỷ giá và thị trường bất động sản; tăng cường dự trữ ngoại hối. Các ngân hàng thương mại cần chủ động nâng cao tỷ lệ an toàn vốn theo chuẩn Basel II nâng cao và Basel III một cách thực chất.
Thứ ba, cần minh bạch hóa thị trường trái phiếu doanh nghiệp, xác định chỉ tiêu và lộ trình phát triển thị trường vốn trung, dài hạn, gắn với mục tiêu giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Đặc biệt, cần lượng hóa nguồn vốn trung và dài hạn thực tế huy động được để phục vụ sản xuất, kinh doanh và phát triển hạ tầng.
“Tăng trưởng kinh tế cao phải đi đôi với nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và sức chống chịu của nền kinh tế; đồng thời cải thiện chất lượng tín dụng, bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, ngân hàng. Đây là yêu cầu quan trọng để duy trì tốc độ tăng trưởng cao nhưng không đánh đổi sự ổn định và bền vững trong dài hạn” - ĐB Phạm Ngọc Lâm nhấn mạnh.


