Cần phải đặt quốc phòng, an ninh, đối ngoại và phát triển trong một chỉnh thể thống nhất
Hội nghị Trung ương 2, Khóa XIV của Đảng đặt ra yêu cầu giữ vững thế chiến lược quốc gia trên nền tảng gắn kết chặt chẽ quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế với phát triển nhanh, bền vững trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị ngày càng phức tạp. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân có cuộc trao đổi vấn đề này với Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Trịnh Xuân An, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Quốc phòng, An ninh, Đối ngoại của Quốc hội.
Ba phương diện lớn của đối ngoại quốc phòng
PV: Thưa Đại biểu Quốc hội Trịnh Xuân An, theo đồng chí, từ quan điểm của Hội nghị Trung ương 2, Khóa XIV; đối ngoại quốc phòng cần được phát huy như thế nào để vừa mở rộng không gian phát triển, vừa bảo đảm an ninh quốc gia từ sớm, từ xa?
Đại biểu Quốc hội Trịnh Xuân An: Tôi cho rằng, điểm rất mới và cũng là yêu cầu rất cao mà Hội nghị Trung ương 2 đặt ra là phải nhìn nhận quốc phòng, an ninh, đối ngoại và phát triển không còn là những lĩnh vực tách rời, mà phải được đặt trong một chỉnh thể thống nhất của tư duy phát triển quốc gia trong giai đoạn mới.
Trong bối cảnh thế giới hiện nay, khi cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, xung đột địa chính trị, chiến tranh thương mại, cạnh tranh công nghệ, đứt gãy chuỗi cung ứng và các thách thức an ninh phi truyền thống gia tăng, thì việc giữ vững “thế chiến lược quốc gia” trước hết phải được hiểu là giữ bằng được môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước nhanh nhưng bền vững, đồng thời không để Tổ quốc rơi vào trạng thái bị động, bất ngờ trước các nguy cơ an ninh.
Trong tổng thể đó, đối ngoại quốc phòng có vai trò đặc biệt quan trọng, nhưng cần nhấn mạnh rằng đối ngoại quốc phòng không phải là một “nhánh riêng” tách biệt, mà phải đặt trong tổng thể đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước – đó là đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; là nền ngoại giao toàn diện, hiện đại mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”.

Đại biểu Quốc hội Trịnh Xuân An, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Quốc phòng, An ninh, Đối ngoại của Quốc hội.
Theo tôi, đối ngoại quốc phòng thời gian tới cần phát huy ít nhất ở ba phương diện lớn.
Trước hết, phải tiếp tục là công cụ quan trọng để giữ nước từ sớm, từ xa, bằng biện pháp hòa bình. Đây là tư duy rất mới trong bảo vệ Tổ quốc. Nếu như trước đây chúng ta thường nghĩ đến bảo vệ chủ quyền khi nguy cơ đã hiện hữu, thì hiện nay phải chủ động phòng ngừa, dự báo, hóa giải nguy cơ ngay từ bên ngoài biên giới quốc gia, từ khi còn manh nha, không để đất nước rơi vào thế bị động chiến lược.
Đối ngoại quốc phòng cần góp phần xây dựng lòng tin chiến lược, tăng cường đối thoại, kiểm soát khác biệt, ngăn ngừa nguy cơ hiểu nhầm, tính toán sai lầm, tạo các “vành đai ổn định” về an ninh xung quanh đất nước. Một quốc gia muốn tăng trưởng nhanh, thu hút đầu tư lớn, phát triển công nghệ cao hay xây dựng các trung tâm tài chính, logistics, công nghiệp hiện đại thì điều kiện tiên quyết là môi trường hòa bình và ổn định.
Thứ hai, đối ngoại quốc phòng cần góp phần mở rộng không gian phát triển quốc gia. Chúng ta thường nhìn quốc phòng dưới góc độ bảo vệ, nhưng trong bối cảnh hiện nay, quốc phòng còn phải góp phần tạo dựng động lực phát triển. Hợp tác quốc phòng không chỉ dừng lại ở giao lưu quân sự mà phải mở rộng sang đào tạo nhân lực chất lượng cao, công nghệ lưỡng dụng, an ninh mạng, công nghiệp quốc phòng hiện đại, cứu hộ cứu nạn, ứng phó các thách thức phi truyền thống.
Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia cho thấy, những công nghệ nền tảng phục vụ phát triển dân sự ngày nay có nguồn gốc từ nghiên cứu quốc phòng. Vì vậy, phát triển công nghiệp quốc phòng hiện đại, tự lực, tự cường không chỉ phục vụ quốc phòng mà còn góp phần nâng cao năng lực công nghệ quốc gia và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, trong điều kiện hội nhập sâu rộng hiện nay, đối ngoại quốc phòng không chỉ phục vụ mục tiêu quốc phòng đơn thuần mà còn phải trở thành một trong những trụ cột kết nối giữa phát triển kinh tế – xã hội với quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Thông qua hợp tác quốc phòng, chúng ta có thể mở rộng kết nối chiến lược, tạo dựng môi trường ổn định cho đầu tư, thương mại, phát triển hạ tầng, logistics, công nghệ lưỡng dụng, đào tạo nhân lực chất lượng cao và nâng cao năng lực ứng phó với các rủi ro an ninh phi truyền thống. Nói cách khác, quốc phòng mạnh không tách rời phát triển, mà phải đồng hành, kiến tạo và bảo vệ không gian phát triển của đất nước.
Thứ ba, đối ngoại quốc phòng phải góp phần giữ thế cân bằng chiến lược trong quan hệ quốc tế, nhất là trong quan hệ với các nước lớn. Đây là vấn đề rất quan trọng và cũng đòi hỏi bản lĩnh chiến lược rất cao.
Việt Nam kiên định chính sách quốc phòng “4 không”. Nhiều người nhìn “4 không” chỉ như một tuyên bố nguyên tắc, nhưng thực chất đây là một lựa chọn chiến lược rất sâu sắc để bảo vệ lợi ích quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn hiện nay. Điều đó thể hiện rất rõ quan điểm nhất quán của Việt Nam là không chọn phe, nhưng luôn chọn lẽ phải, chọn luật pháp quốc tế, chọn lợi ích quốc gia – dân tộc.
Không chọn phe không có nghĩa là đứng ngoài cuộc, càng không có nghĩa là mơ hồ về lợi ích quốc gia. Mà ngược lại, đó là cách để Việt Nam duy trì được không gian chiến lược độc lập, tránh bị cuốn vào vòng xoáy cạnh tranh đối đầu, đồng thời mở rộng quan hệ hợp tác với tất cả các đối tác trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi.
Tôi nghĩ đây chính là bản lĩnh của một quốc gia theo đuổi tư duy “tự chủ chiến lược” – tức là hội nhập sâu rộng nhưng không lệ thuộc; hợp tác toàn diện nhưng không đánh đổi độc lập, chủ quyền; mở cửa mạnh mẽ nhưng luôn giữ được quyền tự quyết trong những vấn đề chiến lược của đất nước.

Tàu buồm 286 - Lê Quý Đôn cập Cảng Chuk Samet, Căn cứ Hải quân Sattahip, trong chuyến Hải quân nhân dân Việt Nam thăm, giao lưu với Hải quân Hoàng gia Thái Lan. Ảnh: qdnd.vn
Chuyển mạnh từ “phản ứng” sang “chủ động kiến tạo”
PV: Theo đồng chí, đâu là những điểm cốt lõi nhất trong tư duy mới về quốc phòng, an ninh hiện nay?
Đại biểu Quốc hội Trịnh Xuân An: Theo tôi, có mấy điểm cốt lõi rất đáng chú ý.
Thứ nhất, tư duy quốc phòng, an ninh hiện nay đã chuyển rất mạnh từ “phản ứng” sang “chủ động kiến tạo an ninh”. Không chờ nguy cơ xuất hiện mới xử lý, mà phải dự báo từ sớm, nhận diện từ xa, xây dựng các lớp phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp trên cả không gian vật lý, kinh tế, công nghệ, dữ liệu và không gian mạng.
Thứ hai, khái niệm an ninh quốc gia ngày nay đã rộng hơn rất nhiều. Một cú sốc năng lượng, một cuộc tấn công mạng quy mô lớn, thao túng dữ liệu, gián đoạn logistics hay khủng hoảng chuỗi cung ứng cũng có thể tạo ra hệ quả an ninh nghiêm trọng không kém các nguy cơ truyền thống. Vì vậy, an ninh quốc gia phải được nhìn nhận theo hướng tích hợp giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học công nghệ và phát triển.
Thứ ba, trong tư duy “ngoại giao cây tre”, tôi cho rằng điều rất quan trọng là tính kỷ luật, tính chắc chắn và sự nhất quán chiến lược. Cây tre mềm dẻo nhưng không mềm yếu; linh hoạt nhưng không tùy nghi; biết thích ứng trước gió lớn nhưng gốc phải vững, thân phải chắc, nguyên tắc phải rõ.
Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, nhiều bất định như hiện nay, sự ổn định trong tư duy chiến lược, tính kỷ luật trong thực thi chính sách và sự nhất quán trong thông điệp đối ngoại – quốc phòng chính là yếu tố tạo nên niềm tin quốc tế và sức mạnh nội sinh của đất nước.
Cuối cùng, tôi cho rằng tư duy mới về quốc phòng, an ninh hiện nay không chỉ là “giữ nước” theo nghĩa truyền thống, mà còn là bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, giữ vững niềm tin của nhân dân, giữ thế chủ động chiến lược và tạo nền tảng cho khát vọng phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Đại tá Kongkrit Homtalop, Chỉ huy trưởng Cảng Chuk Samet đón Đại tá Lại Hồng Đông, Phó giám đốc Học viện Hải quân, Trưởng đoàn công tác Hải quân nhân dân Việt Nam trong chuyến thăm, giao lưu với Hải quân Hoàng gia Thái Lan. Ảnh:qdnd.vn
“Tích hợp chiến lược” cho phát triển
PV: Trung ương nhấn mạnh việc nâng đối ngoại thành nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”. Và một nội dung được nhấn mạnh là “kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh" là một trong những nguyên tắc căn cốt, đã được nêu trong nhiều văn kiện Đảng, Hiến pháp và Luật Quốc phòng. Nguyên tắc này cần làm rõ thêm những điểm nào trong bố cảnh mới, thưa đồng chí?
Đại biểu Quốc hội Trịnh Xuân An: Tôi cho rằng, trong bối cảnh mới hiện nay, nguyên tắc “kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh; quốc phòng, an ninh với kinh tế” vẫn là nguyên tắc căn cốt, xuyên suốt, nhưng nội hàm cần được nhận thức đầy đủ và cập nhật hơn rất nhiều so với trước đây. Nếu như trước đây chúng ta chủ yếu nhìn ở góc độ “kết hợp” theo nghĩa hỗ trợ lẫn nhau, thì nay phải chuyển mạnh sang tư duy “tích hợp chiến lược”, nghĩa là phát triển kinh tế ngay từ đầu phải tính đến yêu cầu quốc phòng, an ninh; đồng thời quốc phòng, an ninh cũng phải kiến tạo không gian và động lực cho phát triển.
Trong bối cảnh mới có ít nhất mấy điểm mà chúng ta cần làm rõ thêm.
Thứ nhất, cần làm rõ hơn yêu cầu kết hợp giữa tăng trưởng nhanh với tăng trưởng an toàn, bền vững và có sức chống chịu cao. Khi mục tiêu tăng trưởng hai con số được đặt ra, nhu cầu huy động nguồn lực, mở rộng đầu tư, phát triển hạ tầng, logistics, năng lượng, dữ liệu, trung tâm tài chính hay các khu thương mại tự do sẽ rất lớn. Nhưng nếu chỉ chạy theo tốc độ mà xem nhẹ yếu tố an ninh thì rất dễ tạo ra những “điểm dễ tổn thương chiến lược”. Vì vậy, bài toán hiện nay không chỉ là tăng trưởng nhanh mà còn phải bảo đảm tự chủ chiến lược, an ninh năng lượng, an ninh dữ liệu, an ninh chuỗi cung ứng, an ninh tài chính và khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài.
Thứ hai, trong bối cảnh chính quyền địa phương 2 cấp và sáp nhập các tỉnh, thành phố tạo ra không gian phát triển mới, nguyên tắc kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh cần được cụ thể hóa mạnh hơn trong tổ chức không gian phát triển. Việc quy hoạch lại địa giới, đô thị, hạ tầng giao thông, trung tâm logistics, cảng biển, sân bay, khu công nghiệp, đô thị ven biển hay vùng biên giới không thể chỉ nhìn bằng tư duy kinh tế thuần túy mà phải tích hợp ngay yêu cầu quốc phòng, an ninh. Một tuyến giao thông chiến lược không chỉ phục vụ vận tải hàng hóa mà còn phải bảo đảm khả năng cơ động lực lượng; một sân bay, cảng biển không chỉ là động lực tăng trưởng mà còn phải tính đến yếu tố lưỡng dụng, sẵn sàng cho các tình huống khẩn cấp.
Đặc biệt, khi hình thành các không gian hành chính – kinh tế mới sau sáp nhập, quy mô quản trị lớn hơn, khoảng cách địa lý xa hơn, tính đa dạng về dân cư, kinh tế và an ninh xã hội cũng phức tạp hơn, thì yêu cầu giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và xây dựng “thế trận lòng dân” sẽ trở thành yếu tố nền tảng cho phát triển.
Thứ ba, cần mở rộng nhận thức về quốc phòng – an ninh trong bối cảnh an ninh phi truyền thống ngày càng nổi lên mạnh mẽ. Trước đây chúng ta thường gắn quốc phòng với nguy cơ chiến tranh hoặc xung đột quân sự trực tiếp. Nhưng hiện nay, một cuộc tấn công mạng vào hệ thống điện, tài chính, dữ liệu dân cư; một đại dịch; một cú sốc năng lượng; một chiến dịch thao túng thông tin hay đứt gãy logistics toàn cầu cũng có thể gây ra hệ quả nghiêm trọng đối với ổn định xã hội và tăng trưởng kinh tế. Do đó, kết hợp kinh tế với quốc phòng hiện nay phải bao hàm cả xây dựng năng lực chống chịu quốc gia, quản trị rủi ro và chuẩn bị các kịch bản ứng phó với các cú sốc lớn.
Thứ tư, trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn và xung đột vũ trang diễn biến khó lường, nguyên tắc kết hợp kinh tế với quốc phòng cần gắn chặt hơn với yêu cầu giữ vững tự chủ chiến lược. Một nền kinh tế hội nhập sâu nhưng phụ thuộc quá lớn vào một thị trường, một chuỗi cung ứng hay một công nghệ lõi sẽ tiềm ẩn rủi ro chiến lược rất lớn. Vì vậy, phát triển kinh tế hiện nay phải gắn với đa dạng hóa thị trường, đối tác, công nghệ và chuỗi cung ứng; phát triển công nghiệp nền tảng, công nghiệp quốc phòng, an ninh và các ngành công nghệ chiến lược để tăng khả năng tự cường của nền kinh tế.
Tôi cho rằng, điểm cốt lõi nhất trong bối cảnh mới là phải chuyển từ tư duy “kết hợp khi cần” sang “tích hợp ngay từ đầu”. Tức là mọi chiến lược phát triển, quy hoạch không gian, chính sách đầu tư, tổ chức bộ máy, hạ tầng chiến lược hay thu hút nguồn lực đều phải được thiết kế trên cơ sở đồng thời phục vụ hai mục tiêu: phát triển nhanh, bền vững và giữ vững quốc phòng, an ninh quốc gia. Chỉ khi làm được điều đó thì tăng trưởng cao mới thực sự là tăng trưởng thực chất, có khả năng chống chịu và bảo đảm cho đất nước phát triển ổn định trong dài hạn.

Đại biểu Quốc hội Trịnh Xuân An, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Quốc phòng, An ninh, Đối ngoại của Quốc hội.
Đặt trong bối cảnh hiện nay, tôi cho rằng cần bổ sung thêm một nhận thức rất quan trọng: Quốc phòng, an ninh không chỉ là “điều kiện” cho phát triển, mà còn phải trở thành một “nguồn lực” và “động lực” của phát triển, nhất là thông qua công nghệ lưỡng dụng, công nghiệp quốc phòng, an ninh mạng, hạ tầng chiến lược và đối ngoại quốc phòng gắn với hội nhập kinh tế quốc tế.
Đổi mới mạnh mẽ phương thức xử lý an ninh phi truyền thống
PV: Hội nghị Trung ương 2, Khóa XIV đề cập tới yêu cầu nâng cao năng lực ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống. Theo đồng chí đối ngoại quốc phòng cần thích ứng ra sao trước các nguy cơ mới như an ninh mạng, biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng hay cạnh tranh công nghệ?
Đại biểu Quốc hội Trịnh Xuân An: Đối ngoại quốc phòng cần thích ứng mạnh mẽ cả về tư duy và phương thức triển khai.
Điều rất quan trọng là đối ngoại quốc phòng trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống không chỉ nhằm ứng phó rủi ro mà còn là một kênh rất hiệu quả để nâng cao chất lượng, trình độ và năng lực quân sự, quốc phòng của đất nước thông qua đào tạo, chia sẻ kinh nghiệm, nâng cao khả năng phối hợp, tác chiến và xử lý tình huống thực tế. Đồng thời, đây cũng là cơ hội để thắt chặt quan hệ quốc phòng với các đối tác, củng cố lòng tin chiến lược, khẳng định vị trí, uy tín và vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam trong các cơ chế hợp tác khu vực và quốc tế, nhất là trong các hoạt động gìn giữ hòa bình, cứu trợ nhân đạo, ứng phó thiên tai và an ninh phi truyền thống.
Đối ngoại quốc phòng hiện nay không chỉ là hợp tác quân sự, giao lưu sĩ quan hay xây dựng lòng tin chiến lược, mà phải mở rộng sang hợp tác về an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu, an ninh biển, ứng phó thiên tai, cứu hộ cứu nạn, y tế quân dân sự, an ninh năng lượng và bảo vệ các hạ tầng chiến lược.
Ví dụ như với an ninh mạng và cạnh tranh công nghệ, đây đang trở thành một “không gian tác chiến mới” của nhiều quốc gia. Vì vậy, đối ngoại quốc phòng cần chủ động thúc đẩy hợp tác đào tạo nhân lực công nghệ cao, chia sẻ kinh nghiệm bảo vệ hạ tầng số, cảnh báo sớm các nguy cơ an ninh mạng, đồng thời tham gia xây dựng các chuẩn mực quốc tế về hành xử có trách nhiệm trên không gian mạng. Nhưng điều quan trọng hơn là phải gắn với mục tiêu nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của đất nước, tránh lệ thuộc chiến lược về dữ liệu, nền tảng số hay công nghệ lõi.
Đối với an ninh năng lượng, bài học từ nhiều cuộc xung đột gần đây cho thấy, khi các tuyến hàng hải, chuỗi cung ứng hay nguồn cung nhiên liệu bị gián đoạn thì hệ quả không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là thách thức an ninh quốc gia. Vì vậy, đối ngoại quốc phòng cần phối hợp chặt chẽ với đối ngoại kinh tế và ngoại giao năng lượng để bảo đảm an ninh tuyến vận tải chiến lược, đa dạng hóa nguồn cung, tăng cường hợp tác bảo vệ an ninh biển, an ninh hạ tầng năng lượng và nâng cao năng lực ứng phó với các cú sốc từ bên ngoài.
Đối với biến đổi khí hậu và thiên tai, đây là lĩnh vực thể hiện rất rõ tính nhân văn và trách nhiệm của đối ngoại quốc phòng hiện đại. Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề bởi nước biển dâng, thời tiết cực đoan và thiên tai bất thường. Vì vậy, hợp tác quốc phòng cần mở rộng sang chia sẻ dữ liệu, cảnh báo sớm, tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ nhân đạo, gìn giữ hòa bình, ứng phó thảm họa và tăng cường khả năng chống chịu của cộng đồng. Điều này không chỉ giúp bảo vệ an ninh con người mà còn củng cố lòng tin, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam.
Tuy nhiên, trong thích ứng với các nguy cơ mới, tôi cho rằng có một nguyên tắc rất quan trọng cần được giữ vững, đó là đối ngoại quốc phòng phải luôn đặt trong tổng thể chính sách đối ngoại chung của đất nước, kiên định đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; nhất quán chính sách quốc phòng “4 không”, không chọn phe nhưng cũng không đứng ngoài các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế. Tôi nghĩ rằng, tinh thần “ngoại giao cây tre” hiện nay cần được thể hiện rất rõ trong lĩnh vực đối ngoại quốc phòng: Mềm dẻo nhưng không mềm yếu, hợp tác rộng mở nhưng có nguyên tắc, thích ứng linh hoạt nhưng giữ vững kỷ luật chiến lược và lợi ích quốc gia – dân tộc.Về lâu dài, điểm cốt lõi nhất là phải xây dựng được năng lực “phòng thủ từ sớm, từ xa” đối với cả các nguy cơ phi truyền thống, nghĩa là không đợi khủng hoảng xảy ra mới ứng phó, mà phải chủ động dự báo, hợp tác, chuẩn bị năng lực chống chịu quốc gia và xây dựng các lớp bảo vệ nhiều tầng, nhiều lớp. Khi đó, đối ngoại quốc phòng không chỉ góp phần bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ mà còn trở thành công cụ quan trọng để bảo vệ tăng trưởng, ổn định xã hội và không gian phát triển của đất nước trong dài hạn.
"4 không": Tầm nhìn và bản lĩnh Việt Nam
PV: Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, khó lường, theo ông đâu là những yếu tố cốt lõi để Việt Nam giữ được cân bằng chiến lược trong quan hệ đối ngoại, đồng thời bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc? Và nhìn từ các cuộc xung đột gần đây trên thế giới, theo đồng chí, chính sách quốc phòng “4 không” cho thấy tầm nhìn chiến lược và bản lĩnh của Việt Nam như thế nào?
Đại biểu Quốc hội Trịnh Xuân An: Trong bối cảnh thế giới hiện nay, khi cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, xung đột vũ trang, chiến tranh thương mại, cạnh tranh công nghệ và các yếu tố bất định gia tăng – việc giữ được cân bằng chiến lược trong quan hệ đối ngoại, đồng thời bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc là một bài toán rất khó, đòi hỏi bản lĩnh, trí tuệ và sự kiên định chiến lược rất lớn.

Đại biểu Quốc hội Trịnh Xuân An, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Quốc phòng, An ninh, Đối ngoại của Quốc hội.
Theo tôi, có mấy yếu tố cốt lõi:
Trước hết, đó là phải kiên định đường lối độc lập, tự chủ, lấy lợi ích quốc gia – dân tộc là tối thượng, là nguyên tắc cao nhất trong hoạch định chính sách. Chính sách quốc phòng “4 không” của Việt Nam thực chất không chỉ là một tuyên bố về quốc phòng mà còn phản ánh tư duy chiến lược rất sâu sắc về đối ngoại và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. “4 không” giúp Việt Nam giữ được thế cân bằng cần thiết, không bị cuốn vào cạnh tranh đối đầu giữa các nước lớn, không để đất nước bị đặt vào thế phải lựa chọn hoặc lệ thuộc chiến lược.
Tuy nhiên, cần hiểu đúng rằng “không chọn phe” không đồng nghĩa với trung lập hay đứng ngoài cuộc. Việt Nam không chọn bên trong cạnh tranh địa chính trị, nhưng luôn chọn công lý, luật pháp quốc tế, lẽ phải và những gì phù hợp với lợi ích quốc gia – dân tộc. Đây là bản lĩnh rất quan trọng để vừa giữ được quan hệ cân bằng với các đối tác lớn, vừa bảo đảm dư địa chiến lược cho phát triển.
Thứ hai, phải thực hiện nhất quán đường lối đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, xây dựng mạng lưới quan hệ đối tác rộng mở, đan xen lợi ích chiến lược với nhiều quốc gia, nhiều trung tâm kinh tế – chính trị lớn. Một đất nước càng có nhiều đối tác tin cậy, càng gắn kết sâu với chuỗi giá trị, thương mại, công nghệ và hợp tác an ninh toàn cầu thì càng giảm thiểu nguy cơ bị cô lập hoặc bị tổn thương trước các cú sốc bên ngoài.
Thứ ba, phải giữ vững năng lực tự chủ chiến lược từ bên trong. Đây là điều rất quan trọng. Không có một sự cân bằng đối ngoại nào bền vững nếu nội lực yếu. Tự chủ chiến lược không phải là khép kín hay tự cung tự cấp, mà là có đủ năng lực để đứng vững, thích ứng và tự quyết trước các biến động bên ngoài. Điều này đòi hỏi phải xây dựng nền kinh tế độc lập, tự cường hơn; bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh dữ liệu, an ninh chuỗi cung ứng; phát triển khoa học công nghệ, công nghiệp quốc phòng và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Thứ tư, phải phát huy hiệu quả ngoại giao “cây tre Việt Nam”, trong đó điều cốt lõi không chỉ là mềm dẻo mà còn là bản lĩnh, tính nguyên tắc và sự nhất quán chiến lược. Mềm dẻo để thích ứng trước những biến động nhanh, khó lường; nhưng gốc phải vững, thân phải chắc, tức là kiên định lợi ích quốc gia – dân tộc, giữ vững độc lập, chủ quyền, không đánh đổi những lợi ích cốt lõi lấy những lợi ích ngắn hạn.
Tôi cho rằng, trong một thế giới đầy bất định hiện nay, giữ được cân bằng chiến lược không phải là đứng giữa một cách thụ động, mà là chủ động tạo thế, tạo lực, tạo niềm tin và tạo không gian chiến lược cho chính mình. Và khi Việt Nam giữ được sự ổn định bên trong, có nội lực đủ mạnh, đối ngoại linh hoạt nhưng nguyên tắc, quốc phòng vững chắc nhưng hòa hiếu, thì chúng ta sẽ bảo đảm được cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trong mọi tình huống.
Đổi mới tư duy lập pháp trong lĩnh vực đối ngoại quốc phòng
PV: Với vai trò là cơ quan tham mưu về Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội, theo đồng chí cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý như thế nào để tạo điều kiện cho đối ngoại quốc phòng phát triển sâu rộng, hiệu quả hơn trong thời gian tới?
Đại biểu Quốc hội Trịnh Xuân An: Từ góc độ người tham gia công tác xây dựng pháp luật về quốc phòng, an ninh và đối ngoại, tôi cho rằng yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là “bổ sung thêm quy định”, mà quan trọng hơn là phải đổi mới tư duy lập pháp đối với lĩnh vực đối ngoại quốc phòng.
Trước hết, cần đặt việc hoàn thiện hành lang pháp lý cho đối ngoại quốc phòng trong tổng thể chủ trương đổi mới công tác xây dựng pháp luật hiện nay: Pháp luật phải thật sự trở thành công cụ kiến tạo phát triển, tháo gỡ điểm nghẽn, mở đường cho cái mới, nhưng đồng thời phải bảo đảm rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ cơ chế kiểm soát quyền lực.
Đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh, càng không thể quy định chung chung; luật có thể thiết kế theo hướng nguyên tắc, linh hoạt, thích ứng nhanh với tình hình, nhưng các thẩm quyền cốt lõi, cơ chế phối hợp, nguồn lực bảo đảm và trách nhiệm tổ chức thực hiện phải được xác định đủ rõ. Bên cạnh đó, theo tôi cần khẩn trương rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về công tác quân sự, quốc phòng để phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp và việc sắp xếp lại đơn vị hành chính hiện nay. Đây là vấn đề rất cấp thiết vì tổ chức bộ máy thay đổi sẽ kéo theo nhiều yêu cầu mới về tổ chức lực lượng, cơ chế vận hành và phân định thẩm quyền.

Đại biểu Quốc hội Trịnh Xuân An, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Quốc phòng, An ninh, Đối ngoại của Quốc hội.
Đặc biệt, cần rà soát kỹ các quy định liên quan đến việc đưa sĩ quan quân đội chính quy về cấp xã, cơ chế phối hợp giữa Ban Chỉ huy quân sự cấp xã với chính quyền địa phương, công an và các lực lượng khác; vấn đề bố trí, sử dụng cán bộ, đào tạo, chế độ chính sách và điều kiện bảo đảm hoạt động. Đồng thời, cần rà soát lại hệ thống quy hoạch, xây dựng thế trận quân sự khu vực phòng thủ, công trình quốc phòng, quỹ đất quốc phòng gắn với không gian hành chính – kinh tế mới; xác định rõ hơn thẩm quyền của cơ quan quân sự cấp tỉnh và cấp xã, tránh chồng chéo, bỏ trống nhiệm vụ, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, thông suốt trong lãnh đạo, chỉ huy và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương.Tôi cho rằng nếu hệ thống pháp luật được rà soát, điều chỉnh tốt, đây sẽ là cơ hội để tái cấu trúc công tác quân sự, quốc phòng địa phương theo hướng tinh gọn, chính quy, hiệu quả hơn, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện phát triển mới.
Thứ hai, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phân cấp, phân quyền trong triển khai đối ngoại quốc phòng. Trong bối cảnh địa phương được tổ chức lại theo hệ thống chính quyền 2 cấp, không gian phát triển mới rộng hơn, yêu cầu kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh cũng cao hơn, thì pháp luật cần tạo điều kiện để các bộ, ngành, địa phương, đơn vị quân đội chủ động hơn trong hợp tác quốc tế, giao lưu quốc phòng, ứng phó thiên tai, cứu hộ cứu nạn, an ninh biển, an ninh mạng, công nghiệp quốc phòng và công nghệ lưỡng dụng. Phân cấp không có nghĩa là buông lỏng, mà là giao quyền đi đôi với tiêu chuẩn, điều kiện, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.
Thứ ba, phải tạo được cơ chế nguồn lực đủ mạnh cho đối ngoại quốc phòng. Muốn đối ngoại quốc phòng đi vào chiều sâu thì không thể chỉ dựa vào chủ trương đúng, mà phải có nguồn lực tài chính, nhân lực, khoa học công nghệ và chế độ chính sách tương xứng. Cần có cơ chế đầu tư cho đào tạo cán bộ đối ngoại quốc phòng chuyên nghiệp, giỏi ngoại ngữ, am hiểu luật pháp quốc tế, công nghệ mới, an ninh phi truyền thống; đồng thời có chính sách thu hút chuyên gia, phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh mạng, dữ liệu, AI, công nghệ lưỡng dụng và năng lực tham gia các cơ chế hợp tác quốc tế.
Thứ tư, hành lang pháp lý phải tạo điều kiện để đối ngoại quốc phòng gắn chặt hơn với phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế. Đối ngoại quốc phòng không chỉ phục vụ riêng nhiệm vụ quốc phòng, mà còn góp phần mở rộng không gian phát triển, củng cố môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ chuỗi cung ứng, hạ tầng chiến lược, năng lượng, dữ liệu, tuyến hàng hải, khu kinh tế, sân bay, cảng biển và các không gian phát triển mới của đất nước.
Tôi cho rằng, điểm cốt lõi là pháp luật phải giúp chúng ta xây dựng được một nền quốc phòng hiện đại, tự chủ, có khả năng hợp tác sâu rộng nhưng không lệ thuộc; một quân đội đủ năng lực bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống, đồng thời đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, trong đó có yêu cầu tăng trưởng cao, thậm chí tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới. Pháp luật về quốc phòng, an ninh và đối ngoại vì vậy phải vừa là “lá chắn” bảo vệ quốc gia, vừa là “đường ray” thể chế để mở rộng hợp tác, huy động nguồn lực và nâng cao vị thế Việt Nam trong bối cảnh thế giới, khu vực biến động rất nhanh và khó lường.
PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!











