Cần thêm cơ chế thúc đẩy thể thao học đường cho học sinh nữ
Dù đã có nền tảng chính sách về giáo dục thể chất, thể thao trường học, song cơ chế và nguồn lực thúc đẩy sự tham gia của học sinh nữ chưa rõ nét.

Học sinh nữ Trường THCS Dịch Vọng (Hà Nội) tham gia Giải thể thao học sinh phổ thông phường Cầu Giấy năm 2025-2026. Ảnh minh họa/website nhà trường.
Khoảng cách giới trong mức độ tham gia thể thao
Ngày 18/6, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam phối hợp với Công ty Cổ phần Danson Solutions cùng sự hỗ trợ của Nike Việt Nam tổ chức Hội thảo “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy sự tham gia thể thao của trẻ em gái cấp trung học cơ sở tại Việt Nam”.
Phát biểu tại hội thảo, GS.TS Lê Anh Vinh - Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam cho biết, đây là nghiên cứu lớn nhất từ trước đến nay được triển khai theo cách tiếp cận đa nguồn, kết hợp tổng quan chính sách, khảo sát trực tuyến, khảo sát trực tiếp tại một số trường THCS, tọa đàm, phỏng vấn sâu và tham vấn với 524.674 đối tượng tại 34 tỉnh/thành phố.
Theo kết quả khảo sát, tỷ lệ học sinh nữ tham gia vận động, luyện tập hoặc chơi thể thao ngoài giờ học ở trường đạt 52,36%, thấp hơn học sinh nam 17,55 điểm phần trăm. Chỉ 20,80% học sinh nữ đạt từ 1 giờ vận động/ngày trở lên.

GS.TS Lê Anh Vinh - Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam phát biểu tại hội thảo.
GS.TS Lê Anh Vinh nhấn mạnh, môi trường học đường đóng vai trò nền tảng trong việc hình thành lối sống lành mạnh cho thế hệ trẻ. Tuy nhiên, khi bước vào tuổi dậy thì, học sinh nữ đang gặp nhiều trở ngại trong việc duy trì hoạt động thể thao.
Theo Viện trưởng Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, học sinh nữ không phải là nhóm “không thích thể thao”, nhưng mức độ đam mê chưa cao. Các em chủ yếu tham gia vì sức khỏe, vóc dáng, giảm căng thẳng và phát triển kỹ năng.
Điều này đòi hỏi cần xây dựng môi trường vận động an toàn, hòa nhập, tôn trọng lựa chọn, giảm áp lực thành tích và giúp học sinh nữ duy trì thói quen tập luyện lâu dài.
“Việc duy trì vận động không chỉ nâng cao sức khỏe thể chất mà còn hỗ trợ sức khỏe tinh thần, sự tự tin, khả năng hợp tác và cảm giác thuộc về trong môi trường học đường” - GS.TS Lê Anh Vinh nhấn mạnh.
Rào cản không nằm ở sự yêu thích

TS Lý Quốc Biên báo cáo tại hội thảo.
Trình bày kết quả nghiên cứu, TS Lý Quốc Biên - thành viên nhóm nghiên cứu cho biết, giai đoạn từ 11 đến 15 tuổi là thời điểm nhạy cảm đối với trẻ em gái. Những thay đổi về tâm sinh lý, áp lực học tập, định kiến giới và sự thiếu tự tin có thể khiến nhiều em dần rời xa hoạt động thể chất.
Khảo sát định lượng cho thấy, mức độ yêu thích thể thao trung bình của học sinh nữ đạt 3,63/5, thấp hơn học sinh nam (3,98/5) theo thang đo Likert. Về hành vi tham gia, 52,4% học sinh nữ cho biết có tham gia vận động hoặc luyện tập, chơi thể thao ngoài giờ học ở trường, thấp hơn học sinh nam (69,9%), với mức chênh lệch 17,5%.
Đáng chú ý, 79,2% học sinh nữ vận động dưới 1 giờ/ngày; chỉ 20,8% đạt từ 1 giờ/ngày trở lên và 7,5% đạt từ 1 giờ 30 phút/ngày trở lên. Các số liệu cho thấy khoảng cách giới không chỉ nằm ở sự yêu thích mà thể hiện rõ hơn ở hành vi tham gia và khả năng duy trì thời lượng vận động hằng ngày.
Một phát hiện đáng chú ý là nghịch lý giữa hứng thú và thói quen vận động. Học sinh nữ không thờ ơ với thể thao và có thể tham gia tích cực nếu hoạt động được tổ chức phù hợp.
Minh chứng từ mô hình Ngày hội thể thao thân thiện cho thấy có 1.279/1.593 học sinh nữ tham gia, tỷ lệ giữa các trường dao động từ 70,3% đến 92,1%, đạt mức trung bình 80,5%. Trong khi đó, tỷ lệ học sinh nữ tham gia thể thao ngoài giờ trong khảo sát diện rộng chỉ đạt 52,4%.
Theo nhóm nghiên cứu, kết quả này cho thấy rào cản không chỉ xuất phát từ nhận thức hay sở thích cá nhân mà còn nằm ở điều kiện tổ chức, môi trường hỗ trợ và khả năng duy trì hoạt động sau các sự kiện.
Xuất phát từ thực tế đó, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam và Danson Solutions triển khai các hoạt động trong khuôn khổ dự án hợp tác “Phát triển Giáo dục thể chất và Thể thao trong nhà trường phổ thông ở Việt Nam”, nhằm tìm hiểu sâu hơn thực trạng tham gia thể thao của học sinh nữ THCS và đề xuất giải pháp phù hợp.

Toàn cảnh hội thảo,
Từ năm 2022, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam phối hợp với Danson Solutions, với sự hỗ trợ của Nike Việt Nam, triển khai dự án “Năng động cùng Thể thao” với Chiến lược 6C trên phạm vi toàn quốc, tiếp cận 34 tỉnh/thành phố và mang đến trải nghiệm vận động tích cực cho hơn 7 triệu học sinh tiểu học.
Tiếp nối kết quả đạt được, năm 2026, các đối tác mở rộng trọng tâm sang nhóm trẻ em gái từ 11-15 tuổi, hướng tới xây dựng môi trường vận động tích cực, hòa nhập và phù hợp hơn để mọi trẻ em gái đều có cơ hội tự tin tham gia, phát triển và phát huy tiềm năng thông qua thể thao.











