Cảnh báo một bệnh lý như 'đại dịch' trong trường học

Tỷ lệ trẻ mắc cận thị ngày càng gia tăng, được xem như một 'đại dịch' trong học đường. Việc quản lý, thăm khám và bảo vệ thị lực cho trẻ vì thế đóng vai trò vô cùng quan trọng.

Đó là chia sẻ của Thạc sĩ, bác sĩ Phạm Thị Hồng Dương (nguyên bác sĩ Bệnh viện Mắt Hà Nội) tại hội thảo về Công nghệ phẫu thuật tật khúc xạ.

Theo bác sĩ Dương, tại Việt Nam, các khảo sát tại một số trường đại học cho thấy tỷ lệ tật khúc xạ khoảng 30%, trong đó cận thị chiếm tới 28%. Đáng lo ngại, cận thị đang có xu hướng trẻ hóa, đặc biệt ở nhóm học sinh, sinh viên và những người thường xuyên làm việc với thiết bị điện tử.

Riêng tại Hà Nội, trong quá trình tham gia các chương trình chăm sóc mắt học đường tại Bệnh viện Mắt Hà Nội, bác sĩ từng ghi nhận có trường hợp tới 90% học sinh cấp 3 trong một trường chuyên bị cận thị.

Cận thị nặng không chỉ làm suy giảm chất lượng thị lực mà còn làm tăng nguy cơ xuất hiện nhiều biến chứng nghiêm trọng như thoái hóa võng mạc, bong võng mạc, glaucoma hay đục thủy tinh thể sớm.

Bác sĩ phẫu thuật cho bệnh nhân. Ảnh: P.V.

Bác sĩ phẫu thuật cho bệnh nhân. Ảnh: P.V.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng ghi nhận tỷ lệ cận thị nặng đang gia tăng nhanh trong vài thập kỷ gần đây. Trước xu hướng cận thị ngày càng phổ biến và xuất hiện sớm ở trẻ em, WHO xếp cận thị vào nguyên nhân thứ 5 có nguy cơ gây mù lòa.

Theo bác sĩ Dương, điều trị cận thị bao gồm nhiều phương pháp như đeo kính gọng, kính áp tròng và phẫu thuật khúc xạ.

Từ 18 tuổi trở lên, người bệnh có thể cân nhắc phẫu thuật tật khúc xạ để cải thiện thị lực. Hiện nay, các phương pháp phẫu thuật ngày càng tiến bộ, tuy nhiên không phù hợp với tất cả bệnh nhân. Một số trường hợp chống chỉ định như giác mạc quá mỏng, độ cận quá cao hoặc mắc các bệnh lý mắt khác.

Trong đó, các kỹ thuật phẫu thuật hiện đại sử dụng laser với thời gian tác động chỉ khoảng 10 giây. Bác sĩ sẽ dựa trên ứng dụng công nghệ có hỗ trợ từ AI giúp dự đoán hiệu quả thị lực không chỉ ngay sau mổ mà còn trong tương lai lâu dài.

So với các phương pháp cũ như phẫu thuật bề mặt hay tạo vạt giác mạc, các công nghệ rút lõi mô tiên tiến hiện nay có đường mổ nhỏ, thời gian nhanh, giảm tác dụng phụ như khô mắt hay kích thích khó chịu, đồng thời đảm bảo độ vững chắc sinh học của giác mạc. Ngoài ra, các công nghệ mới còn khắc phục được những hạn chế trước đây như loạn thị cao hoặc viễn thị.

Bác sĩ Dương cho biết, cận thị thường do nhiều yếu tố phối hợp, phổ biến nhất là mắt phải làm việc cường độ cao trong thời gian dài, tiếp xúc nhiều với thiết bị điện tử, ánh sáng học tập không đảm bảo, ít hoạt động ngoài trời, tư thế ngồi sai hoặc đọc ở khoảng cách quá gần. Một số trường hợp cận thị sớm có liên quan đến yếu tố di truyền.

Trẻ mắc cận thị cần được thăm khám chuyên khoa mắt định kỳ để theo dõi và áp dụng các biện pháp kiểm soát tiến triển theo chỉ định của bác sĩ. Hiện nay, nhiều phương pháp được sử dụng nhằm hạn chế tăng độ như kính áp tròng định hình giác mạc đeo ban đêm, tròng kính thiết kế chuyên biệt, chương trình huấn luyện thị giác và một số thuốc hỗ trợ.

Mỗi người cần chủ động bảo vệ thị lực bằng cách hạn chế nhìn gần liên tục, sử dụng thiết bị điện tử hợp lý, giữ tư thế đúng khi học tập và làm việc, đảm bảo đủ ánh sáng. Việc tăng cường hoạt động ngoài trời, kết hợp chế độ dinh dưỡng cân đối, bổ sung các dưỡng chất cần thiết cho mắt như vitamin A, C, E và kẽm cũng góp phần quan trọng trong việc duy trì sức khỏe thị giác.

Phương Thúy

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/canh-bao-mot-benh-ly-nhu-dai-dich-trong-truong-hoc-2485310.html