Cấp 'căn cước' cho chè

Chè Thái Nguyên từ lâu đã là niềm tự hào trong văn hóa ẩm thực Việt, mỗi búp chè non đều chắt chiu tinh hoa của đất trời để tạo nên vị “tiền chát hậu ngọt” khó trộn lẫn. Thế nhưng, trong thời đại số, khách hàng không chỉ dừng lại ở việc thưởng thức bằng vị giác mà còn đòi hỏi tường tận về nguồn gốc: Búp chè ấy hái từ đồi nào, được chăm bón bằng nguồn dưỡng chất gì, thu hái ra sao và chế biến theo quy trình nào.

Trước đòi hỏi ấy, một cuộc "cách mạng" thầm lặng nhưng quyết liệt đang diễn ra trên các triền đồi xứ Trà: cấp “căn cước” điện tử cho chè thông qua mã QR.

Người dân xã Phú Thịnh thu hái chè.

Người dân xã Phú Thịnh thu hái chè.

Sản xuất có trách nhiệm

Hợp tác xã chè Tuyết Hương (xóm Na Long, xã Đồng Hỷ) là một trong những đơn vị tiên phong áp dụng tem truy xuất nguồn gốc và số hóa quy trình canh tác.

Bà Trần Thị Tuyết, Chủ tịch HĐQT, Giám đốc HTX chè Tuyết Hương, cho biết: Mọi công đoạn từ lúc trồng, ngày bón phân hữu cơ, làm cỏ, bấm ngọn cho đến thời điểm thu hái, sao sấy đều được cập nhật vào nhật ký điện tử. Nền tảng số đã biến những kinh nghiệm dân gian trở thành dữ liệu chuẩn xác, minh bạch, được đồng bộ trên hệ thống máy chủ.

Sự chuyển đổi này xuất phát trực tiếp từ tâm lý người tiêu dùng. Chúng tôi gặp chị Dương Việt Hà, tổ 12, phường Linh Sơn, khi chị đang dùng điện thoại thông minh quét mã QR của một hộp trà đinh cao cấp. Chỉ sau chưa đầy ba giây, màn hình hiển thị toàn bộ thông tin chi tiết: Tọa độ GPS chính xác của đồi chè, ngày thu hái, thời gian cách ly phân bón vi sinh đạt chuẩn ba mươi ngày, kèm theo đó là hình ảnh kiểm định chất lượng và cả chân dung nghệ nhân phụ trách mẻ sấy.

Chị Hà chia sẻ: Hiện nay, khi mua các loại nông sản, điều chị quan tâm nhất chính là nguồn gốc của nông sản. Đối với chè, là thức uống hằng ngày, nên chị càng thận trọng khi lựa chọn sản phẩm. 

Thực tế, nỗi lo lớn nhất của ngành chè bấy lâu nay chính là tình trạng hàng giả, hàng nhái, hàng pha trộn kém chất lượng mượn danh “Đệ nhất danh trà” để trục lợi, làm ảnh hưởng nghiêm trọng thương hiệu bao thế hệ người dân vùng chè đã dày công tạo dựng.

Việc mỗi mẻ chè có một mã định danh duy nhất như tấm "căn cước" gắn chip, chính là sự bảo đảm tốt nhất về chất lượng. Mã QR gắn trên bao bì chứa đựng toàn bộ vòng đời sinh trưởng và chế biến của sản phẩm.

Người tiêu dùng chỉ cần một thao tác chạm là có thể biết được toàn bộ thông tin cần thiết. Điều này cũng buộc người sản xuất phải bước vào quỹ đạo sản xuất có trách nhiệm.

Bản cam kết với cộng đồng

Nhận thức được giá trị sống còn của minh bạch hóa, không riêng HTX Tuyết Hương, làn sóng chuyển đổi số đã nhanh chóng lan tỏa sang các tổ hợp tác, hợp tác xã và doanh nghiệp trọng điểm trên toàn tỉnh.

Trong những năm gần đây, tại Hợp tác xã chè Minh Đeng, xã Đồng Hỷ, tinh thần ấy cũng được hiện thực bằng những cam kết khắt khe trên từng diện tích vùng trồng VietGAP và hữu cơ.

Anh Nguyễn Thế Kiên, Phó Giám đốc HTX chè Minh Đeng, cho biết: Thời gian đầu vận hành nhật ký điện tử, nhiều xã viên lớn tuổi cảm thấy phiền hà vì phải thao tác trên điện thoại sau mỗi buổi làm mệt nhọc. Thế nhưng, khi thấy sản phẩm có tem truy xuất được khách hàng đón nhận, giá bán tăng đều và các đơn hàng lớn từ chuỗi siêu thị tự tìm đến, họ thấy mọi vất vả đều xứng đáng. 

Chế biến chè tại HTX chè Búp Ngọc, xã Phú Thịnh.

Chế biến chè tại HTX chè Búp Ngọc, xã Phú Thịnh.

Ông Đặng Mạnh Dũng, Giám đốc HTX chè Suối Đình, xã Phú Lạc, khẳng định: Việc dán tem "định danh điện tử" không phải là một chiêu thức tiếp thị, mà là một cuộc tái cấu trúc toàn diện chuỗi giá trị. Mỗi mẻ chè xuất xưởng không chỉ đơn thuần mang theo hương vị thơm đượm mùi cốm non, mà còn là uy tín và danh dự của cả tập thể.

Khi dữ liệu công khai trước khách hàng, người nông dân sẽ nâng cao ý thức tự giác, không thu hái chè non, không bón phân hóa học bừa bãi và tuân thủ nghiêm ngặt thời gian cách ly an toàn.

Bà Vũ Thị Thu Hương, Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh, cho biết: Toàn tỉnh hiện có khoảng 500 doanh nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp có cập nhật dữ liệu và sử dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử. Trong đó, có nhiều HTX sản xuất chè trọng điểm như: Hảo Đạt, La Bằng, Phúc Nguyên, Kim Thoa, Tuyết Hương, Minh Đeng… Hiện tại, toàn tỉnh cũng đã thiết lập và gắn định vị GPS cho khoảng 150 mã vùng trồng chè để phục vụ việc theo dõi và truy xuất nguồn gốc sản phẩm.

Truy xuất nguồn gốc trong kỷ nguyên số không dừng lại ở một giải pháp công nghệ đơn thuần, mà đã trở thành bản cam kết giữa người làm nông nghiệp và cộng đồng. Tấm “căn cước” cho búp chè không chỉ bảo vệ sức khỏe của người tiêu

 dùng, hạn chế gian lận thương mại, mà còn là chiếc chìa khóa mở cánh cửa hội nhập. Với sự minh bạch và chuẩn hóa đến từng chi tiết, chè Thái Nguyên đang tự tin bước lên kệ của những thị trường khó tính trên thế giới, khẳng định giá trị vững bền của thương hiệu trà Việt.

Hải Hằng

Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/cap-can-cuoc-cho-che