Carl Jung nói gì về sự tiến hoá của linh hồn sau cái chết?
Tôi còn có một trải nghiệm khác về sự tiến hóa của linh hồn sau cái chết. Khoảng một năm sau khi vợ tôi qua đời.

Tác giả: Carl Gustav Jung/Bách Việt Books-NXB phụ nữ Việt Nam
Cái chết và sự bất tử
Đây không chỉ là một cuốn sách về cái chết, mà còn là hành trình khám phá những bí ẩn sâu kín nhất của tâm hồn con người. Từ góc nhìn của tâm lý học phân tích, tác phẩm tập hợp những suy tư, bài viết và quan điểm của Carl Jung về cái chết, sự sống và khát vọng bất tử đã tồn tại trong mọi nền văn minh.
Carl Jung nói gì về sự tiến hoá của linh hồn sau cái chết?
Tôi còn có một trải nghiệm khác về sự tiến hóa của linh hồn sau cái chết. Khoảng một năm sau khi vợ tôi qua đời.
Nếu quả thực tồn tại một dạng ý thức sau cái chết, tôi cho rằng nó sẽ phải tiếp diễn ở đúng mức độ nhận thức mà nhân loại đã đạt được tại thời điểm đó. Và ở bất kỳ thời đại nào, mức độ này cũng đều có giới hạn trần, dù rằng giới hạn ấy có thể thay đổi. Có rất nhiều người, trong suốt cuộc đời mình lẫn cả khi lâm chung, vẫn thấy mình tụt hậu, không khai phá được tiềm năng của chính mình.
Thậm chí quan trọng hơn cả, những người đó không thấu hiểu nổi được những tri thức mà những người khác cùng thời đã đưa được lên bình diện ý thức. Do đó, họ có tâm nguyện sau khi chết là lĩnh hội được ở phần ý thức nội dung tri thức mà họ đã đã lỡ đánh mất khi còn tại thế.
Tôi đi đến kết luận này thông qua việc quan sát những giấc mơ về người đã khuất. Có lần tôi mơ thấy mình đến thăm một người bạn đã qua đời khoảng hai tuần trước đó. Khi còn sống, người bạn này của tôi chưa bao giờ có quan điểm nào khác ngoài quan điểm truyền thống (/cái nhìn quy ước?) về thế giới và vẫn mãi mắc kẹt trong thái độ thiếu suy xét đó.
Trong giấc mơ, nhà của ông ấy nằm trên một ngọn đồi tương tự như đồi Tüllinger gần Basel. Những bức tường của một lâu đài cổ bao quanh một quảng trường gồm một nhà thờ nhỏ và một vài công trình khiêm tốn khác. Nó gợi cho tôi nhớ đến quảng trường trước lâu đài Rapperswil. Khi ấy là mùa thu. Lá của những cây cổ thụ đã chuyển sang sắc vàng và toàn bộ khung cảnh dưới nắng vàng dịu nhẹ trông thật tuyệt vời.
Người bạn tôi ngồi bên bàn cùng với con gái ông, cô từng học chuyên ngành tâm lý học ở Zurich. Tôi biết cô đang nói với ông về tâm lý học. Ông ấy bị cuốn hút bởi những gì cô nói đến nỗi chỉ chào tôi bằng một cái vẫy tay hờ hững, như thể muốn nói: “Đừng làm phiền tôi.” Cái chào đó đồng thời cũng là một lời tạm biệt.
Giấc mơ cho tôi biết rằng giờ đây, bằng một cách mà tất nhiên tôi vẫn không thể nào hiểu được, ông buộc phải cố gắng nắm bắt thực tại về sự tồn tại tâm lý của chính mình, điều mà ông chưa bao giờ có khả năng làm được trong suốt cuộc đời.

Carl Jung theo đuổi việc nghiên cứu về thế giới của linh hồn sau cái chết. Ảnh: Jungian Alchemist.
Tôi còn có một trải nghiệm khác về sự tiến hóa của linh hồn sau cái chết. Khoảng một năm sau khi vợ tôi qua đời, một đêm nọ tôi đột nhiên tỉnh giấc và biết rằng mình vừa ở bên cạnh bà ấy tại miền nam nước Pháp, vùng Provence, và đã trải qua cả một ngày trọn vẹn bên bà ấy.
Bà ấy đang chuyên tâm nghiên cứu về Chén Thánh ở đó. Điều này với tôi mà nói dường như mang ý nghĩa đặc biệt, bởi vợ tôi đã qua đời trước khi kịp hoàn tất công trình nghiên cứu của mình về đề tài này.
Diễn giải theo đúng “sách giáo khoa” tâm lý học phân tích của tôi, thì người vợ trong giấc mơ ấy chẳng qua chỉ là hình ảnh phóng chiếu của phần tính nữ vô thức (anima) vốn có trong người đàn ông là tôi mà thôi. Đó có lẽ là thông điệp của phần vô thức muốn nhắc nhở tôi rằng tôi vẫn chưa hoàn thành hành trình phát triển tinh thần.
Nếu hiểu theo cách này, tôi thấy phần vô thức của tôi dường như hơi “lo bò trắng răng” thì phải, bởi lẽ tôi luôn ý thức rõ mình chưa hoàn tất việc đó, đâu cần phần vô thức phải “nhắc tuồng”.
Do đó, nếu hiểu theo đúng lý thuyết tâm lý học phân tích, tôi không nhận thấy có phát hiện mới nào về tâm trí cả. Trái lại, ý nghĩ về việc vợ tôi vẫn đang tiếp tục hoàn thành chuyến hành trình nội tại cá nhân sau khi đã mất để đạt được trạng thái phát triển tâm trí cao hơn thực sự có giá trị tinh thần và mang lại niềm an ủi nhất định cho tôi.
Dĩ nhiên, những ý niệm kiểu này, dù có ý nghĩa về mặt tinh thần, không thể chính xác và tạo ra một hình ảnh sai lệch - đó là cái kiểu sai lệch giữa hình ảnh ba chiều của một vật thể và hình chiếu hai chiều của nó trên một mặt phẳng, hay ngược lại, giống như việc ta cố xây dựng một mô hình bốn chiều từ một vật thể ba chiều vậy.
Đặc điểm của vật thể bốn chiều sẽ bị hiểu sai nếu chúng ta sử dụng những thuật ngữ của thế giới ba chiều mà miêu tả nó. Để đảm bảo tính chính xác cao hơn khi miêu tả vật thể bốn chiều, chúng ta có thể viện đến sự trợ giúp của toán học.
Các biểu thức trong toán học không chỉ dùng để đo đạc định lượng trong thế giới ba chiều có thể thực nghiệm, mà còn có thể giúp ta quan sát được đặc điểm của các mối quan hệ vượt quá trải nghiệm của ý thức thông qua khả năng biểu nghĩa của nó.
Tương tự, khi nỗ lực diễn giải giấc mơ và thị kiến, điều vô cùng quan trọng là chúng ta phải vận dụng trí tưởng tượng của mình để xây dựng hình ảnh về những điều vô hình theo cách bám sát theo các nguyên tắc logic và trên cơ sở dữ liệu thực nghiệm, tức là dựa trên bằng chứng từ nội dung giấc mơ.
Điều này có thể được ví với hình ảnh cây dây leo mọc quấn quanh hàng rào cọc gỗ, với nguyên tắc logic là hàng rào cọc gỗ, còn các chi tiết trong giấc mơ là cây dây leo.
Phương pháp mà tôi sử dụng được gọi là “phương pháp mệnh đề phát biểu tất yếu” (the method of the necessary statement)1. Nó thể hiện nguyên lý khuếch đại trong việc diễn giải giấc mơ, nhưng có lẽ bạn sẽ hiểu nó rõ hơn thông qua các mệnh đề phát biểu ngầm ẩn về các số nguyên đơn giản.
Số Một (1) là con số nguyên đầu tiên, và ý niệm về con số này gợi liên tưởng mạnh mẽ nhất đến “sự hợp nhất”. Ngoài ra, khi nhắc tới con số này, chúng ta cũng thường liên tưởng đến những khái niệm triết học như “sự nhất thể”, Cái Đơn Nhất (One), Toàn Nhất Thể (All-Oneness), tính cá thể và tính phi nhị nguyên. Ý niệm về số Một có thể đóng vai trò như một nguyên mẫu, hay một thuộc tính của Thượng đế, cái mà người ta gọi “đơn tử” (monad).
Việc trí tuệ con người sản sinh ra những mệnh đề phát biểu như vậy là tuân theo liên tưởng tự do; nhưng đồng thời, trí tuệ cũng bị chi phối và giới hạn bởi quan niệm về sự hợp nhất và những hàm ý của nó. Nói cách khác, những mệnh đề phát biểu này không phải là tùy tiện.
Chúng bị chi phối bởi bản chất của sự hợp nhất và do đó là sự hình thành chúng trong tâm trí là tất yếu. Về mặt lý thuyết, chúng ta có thể dùng cùng một nguyên tắc logic toán học trên để đúc rút ra thêm logic tương tự cho mỗi khái niệm số tiếp theo, nhưng trên thực tế, quá trình này nhanh chóng kết thúc do sự gia tăng nhanh chóng các nhiễu dữ kiện phức tạp, trở nên quá nhiều để có thể xử lý.
Mỗi đơn vị số nguyên tiếp theo đều mang lại liên tưởng về các thuộc tính mới và các biến đổi mới. Chẳng hạn, một thuộc tính của số bốn là các phương trình bậc bốn có thể được giải, trong khi các phương trình bậc năm thì không thể.
Vì vậy, một trong các mệnh đề phát biểu tất yếu của số Bốn (4) là đỉnh, ngọn, chóp, đồng thời là điểm kết thúc của quá trình tăng tiến trước đó. Vì mỗi khi thêm một đơn vị số nguyên mới, một hoặc nhiều thuộc tính toán học mới xuất hiện, các mệnh đề phát biểu trở nên phức tạp đến mức không thể diễn đạt thành lời được nữa.
Chuỗi vô hạn các số tự nhiên tương ứng với số lượng vô hạn các cá thể sinh vật. Chuỗi ấy cũng được cấu thành từ các cá thể riêng lẻ, và ngay cả các thuộc tính của chỉ mười số nguyên đầu tiên - nếu quả thực chúng có biểu trưng cho điều gì, thì cũng thể hiện một thứ vũ trụ luận trừu tượng, bắt nguồn từ đơn thể. Tuy nhiên, các thuộc tính của những con số vốn dĩ trùng khớp với các thuộc tính của vật chất, chính vì vậy mà một số phương trình toán học nhất định có thể giúp dự đoán động thái của vật chất.
