Câu chuyện cỏ biển, bò biển và kinh tế dưới đáy đại dương

Thế giới đang nhìn nhận lại giá trị của những 'đồng cỏ đại dương' không chỉ như một hệ sinh thái đa dạng mà còn là một trong những trụ cột của nền kinh tế xanh dương. Riêng tại Việt Nam, hành trình bảo tồn thảm cỏ biển đang đứng trước những thách thức giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và cam kết bảo tồn đa dạng sinh học.

Theo thông tin mới nhất từ Liên Hợp Quốc (UN) nhân Ngày Quốc tế Cỏ biển (World Seagrass Day – 1-3), cỏ biển bao phủ chưa đầy 0,1% đáy đại dương nhưng lại chịu trách nhiệm lưu trữ khoảng 10–18% lượng carbon hữu cơ của đại dương toàn cầu. Khả năng hấp thụ carbon của cỏ biển cao gấp 35 lần so với rừng nhiệt đới, khiến chúng trở thành một trong những công cụ tự nhiên hiệu quả nhất để giảm thiểu biến đổi khí hậu (1).

Cỏ biển và giá trị kinh tế bền vững

Cỏ biển đóng vai trò quan trọng trên phạm vi toàn cầu trong việc đảm bảo an ninh lương thực, giảm thiểu biến đổi khí hậu, làm giàu đa dạng sinh học, làm sạch nguồn nước, bảo vệ đường bờ biển và kiểm soát dịch bệnh. Ảnh: Benjamin L. Jones / Unsplash."/UN

Cỏ biển đóng vai trò quan trọng trên phạm vi toàn cầu trong việc đảm bảo an ninh lương thực, giảm thiểu biến đổi khí hậu, làm giàu đa dạng sinh học, làm sạch nguồn nước, bảo vệ đường bờ biển và kiểm soát dịch bệnh. Ảnh: Benjamin L. Jones / Unsplash."/UN

Đó là lý do trong những năm qua nhiều quốc gia có bờ biển dài trên thế giới ra sức làm giàu “đồng cỏ đại dương” của mình về mặt số lượng và tài chính. Đơn cử, Nhật Bản đang trên hành trình phục hồi cỏ biển thành chiến lược cốt lõi để thích ứng khí hậu. Tháng 4-2024, Nhật Bản trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới chính thức đưa con số 350.000 tấn CO2 hấp thụ từ các thảm cỏ biển vào báo cáo kiểm kê khí nhà kính trình UN.

Indonesia cũng đang đẩy mạnh chiến lược kinh tế biển bền vững với mục tiêu đưa các dự án carbon xanh dương (blue carbon) đầu tiên lên sàn giao dịch quốc tế vào năm 2027. Sở hữu khoảng 17% trữ lượng carbon xanh dương toàn cầu, quốc gia này đang ưu tiên phát triển các dự án dựa trên 660.000 ha thảm cỏ biển – một trong những thành tố chính trong nền kinh tế biển trị giá 1.300 tỉ đô la của quốc đảo này. Chính phủ Indonesia đang nỗ lực hoàn thiện các quy trình kiểm soát và xác minh nghiêm ngặt để biến cỏ biển thành hàng hóa carbon xanh.

Trong khi đó, Việt Nam, với đường bờ biển dài và vị trí trong vùng nhiệt đới, sở hữu khoảng 15 loài cỏ biển trên tổng diện tích ước tính gần 20.000ha. Tuy nhiên, con số này đang chịu áp lực sụt giảm từ 40-60% trong hai thập kỷ qua. Điều này không chỉ gây mất mát về đa dạng sinh học mà còn làm suy giảm nghiêm trọng khả năng hấp thụ carbon – một "tài sản xanh" mà quốc gia đang cần để hiện thực hóa cam kết Net Zero (phát thải ròng bằng không) vào năm 2050.

Côn Đảo được xem là ví dụ điển hình. Vườn Quốc gia Côn Đảo là nơi duy nhất còn ghi nhận một quần thể Dugong (bò biển) có khả năng sinh sản. Theo dữ liệu cập nhật từ Ban quản lý Vườn Quốc gia Côn Đảo tính đến đầu năm 2026, quần thể bò biển tại đây hiện chỉ còn dao động khoảng 8 đến 10 cá thể. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2024–2025, liên tiếp các trường hợp bò biển chết được ghi nhận mà không có tác động từ ngư cụ, đặt ra nghi vấn lớn về sự suy giảm chất lượng thảm cỏ biển – nguồn thức ăn duy nhất của chúng (2).

Khi các hoạt động du lịch và ô nhiễm nguồn nước làm suy yếu thảm cỏ, "Nàng tiên cá" - tên thường gọi về loài này) không chỉ mất đi nguồn sống mà còn mất đi hành lang di cư an toàn.

Từ cỏ biển đến bài toán kinh tế xanh dương

Ở khía cạnh pháp lý, dù vai trò của cỏ biển đã được luật hóa trong các quy định liên quan, nhưng trên thực tế, hệ sinh thái này đang bị kẹt giữa các quy hoạch chồng chéo. Tại những "thủ phủ" cỏ biển như Phú Quốc hay Côn Đảo, xung đột lợi ích giữa bảo tồn và phát triển hạ tầng du lịch vẫn chưa có lời giải thỏa đáng. Việc thực thi Luật Thủy sản hiện gặp khoảng trống lớn khi các dự án lấn biển thường được ưu tiên nhờ lợi nhuận tức thời, trong khi giá trị sinh thái của cỏ biển lại khó định lượng bằng tiền mặt ngay lập tức.

Việc định giá carbon từ thảm cỏ biển sẽ tạo ra nguồn tài chính thực chất cho cộng đồng địa phương. Ảnh: Gemini AI

Việc định giá carbon từ thảm cỏ biển sẽ tạo ra nguồn tài chính thực chất cho cộng đồng địa phương. Ảnh: Gemini AI

Theo Đề án mở rộng, thành lập mới các khu bảo tồn biển, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản, phục hồi các hệ sinh thái biển đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu đưa 6% diện tích vùng biển vào danh mục bảo tồn (3). Tuy nhiên, mục tiêu này đang đối mặt với thực trạng thiếu hụt nguồn lực tài chính trầm trọng. Hiện nay, ngân sách nhà nước vẫn là nguồn thu chính để duy trì các khu bảo tồn, trong khi các cơ chế xã hội hóa hay chi trả dịch vụ hệ sinh thái biển vẫn chưa đủ mạnh.

Có lẽ cơ hội để giải quyết vấn đề này khi Việt Nam sẽ thí điểm sàn giao dịch tín chỉ carbon vào cuối năm nay. Lúc đó, cỏ biển sẽ từ một đối tượng cần “giải cứu” thành một tài sản sinh lời bền vững.

Việc định giá carbon từ thảm cỏ biển sẽ tạo ra nguồn tài chính thực chất cho cộng đồng địa phương. Thay vì khai thác tận diệt, ngư dân và các doanh nghiệp du lịch sẽ có động lực kinh tế để giữ gìn các thảm cỏ. Nếu tính toán dựa trên khả năng lưu trữ carbon vượt trội, một héc-ta cỏ biển được phục hồi có thể mang lại giá trị kinh tế cao hơn nhiều lần so với việc chuyển đổi sang các hình thức nuôi trồng thủy sản truyền thống.

Cụ thể, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Việt Nam có diện tích biển khoảng 1 triệu km2 và tổng diện tích rừng đạt gần 14,9 triệu ha được đánh giá là giàu tiềm năng tín chỉ carbon. Phát thải ròng của Việt Nam tăng từ 150,9 triệu tấn CO₂ năm 2000 lên 420,7 triệu tấn năm 2020, dự kiến đạt 1.500 triệu tấn vào năm 2050. Do đó, nhu cầu bù trừ phát thải bằng tín chỉ carbon cũng rất lớn.

Có thể nói, từ chuyện cứu lấy những cá thể bò biển cuối cùng tại Côn Đảo cho đến vấn đế khai thác “mỏ vàng” carbon xanh dương trong tương lai, cần một sự chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy “khai thác biển” sang “tận dụng tiềm năng kinh tế biển xanh”.

Nguồn tham khảo:

Nhân Tâm

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/cau-chuyen-co-bien-bo-bien-va-kinh-te-duoi-day-dai-duong/