Câu 'thùng rỗng kêu to' có ý nghĩa gì?

Thành ngữ 'thùng rỗng kêu to'là lời nhắc của cha ông xưa về cách ứng xử và vẫn còn nguyên ý nghĩa đến ngày nay.

Không ít người thích gây ấn tượng bằng lời nói, trong khi người có năng lực thường chứng minh bản thân bằng hành động và kết quả công việc. Sự đối lập ấy được ông cha ta gửi gắm trong thành ngữ “thùng rỗng kêu to”– lời nhắc về cách ứng xử vẫn còn nguyên ý nghĩa đến ngày nay.

Theo Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, 2021), “thùng” là đồ đựng bằng kim loại hoặc gỗ có dạng hình trụ hoặc hình hộp. “Rỗng” là trạng thái không có phần ruột ở bên trong, “kêu” là phát ra âm thanh, tiếng động.

Ở nghĩa đen, câu thành ngữ trên mô tả một thực tế: Khi gõ vào chiếc thùng rỗng, âm thanh phát ra sẽ lớn và vang hơn. Ngược lại, chiếc thùng chứa đầy đồ vật sẽ phát ra âm thanh nhỏ và đục hơn. Từ quan sát quen thuộc ấy, ông cha ta đã mượn hình ảnh chiếc thùng rỗng để nói về cách ứng xử của con người.

Theo Từ điển Thành ngữ, tục ngữ Việt Nam (NXB Văn hóa Thông tin, 2000), câu “thùng rỗng kêu to” dùng để chỉ những người hay to mồm, lớn tiếng khoe khoang nhưng lại ít hiểu biết, lười suy nghĩ hoặc năng lực hạn chế.

Qua cách ví von ấy, ông cha ta nhắc rằng phẩm chất của một con người không được quyết định bởi những lời tự khẳng định mà được thể hiện qua năng lực, cách ứng xử và kết quả công việc. Vì vậy, người có thực tài thường được đánh giá qua những gì họ làm được hơn là qua những lời khoa trương.

Trong thực tế, kiểu người “thùng rỗng kêu to” thường được nhắc đến với một số biểu hiện dễ nhận thấy.

Trước hết là sự tự cao, tự đại. Khi quá đề cao bản thân, con người dễ trở nên bảo thủ, ngại tiếp thu ý kiến và thiếu động lực học hỏi, hoàn thiện mình.

Tiếp đó là tâm lý “ảo tưởng sức mạnh”. Chỉ mới có một chút hiểu biết hoặc đạt được thành công bước đầu nhưng đã cho rằng mình vượt trội, từ đó thích phán xét hoặc chỉ bảo người khác. Vì vậy, họ dễ đánh giá quá cao khả năng của mình và xem nhẹ ý kiến của người khác.

Bên cạnh đó là thói ba hoa, khoác lác. Nói nhiều nhưng làm ít, thích thể hiện hơn là trau dồi năng lực cũng là đặc điểm thường được nhắc đến khi nói về kiểu người này.

Thành ngữ “thùng rỗng kêu to” bắt nguồn từ hiện tượng chiếc thùng rỗng phát ra tiếng vang lớn hơn so với thùng chứa đầy vật bên trong. (Ảnh minh họa: VOH)

Thành ngữ “thùng rỗng kêu to” bắt nguồn từ hiện tượng chiếc thùng rỗng phát ra tiếng vang lớn hơn so với thùng chứa đầy vật bên trong. (Ảnh minh họa: VOH)

Ý nghĩa của thành ngữ không chỉ dừng lại ở sự phê phán mà còn nhắc nhở mỗi người biết nhìn nhận đúng bản thân. Hiểu rõ điểm mạnh để phát huy, nhận ra điểm yếu để tiếp tục học hỏi là nền tảng để hoàn thiện chính mình.

Khiêm tốn không đồng nghĩa với tự ti hay phủ nhận năng lực. Đó là thái độ biết lắng nghe, sẵn sàng tiếp thu và không ngừng hoàn thiện bản thân. Sự ghi nhận của người khác đến từ những việc làm và đóng góp thực tế, chứ không phải từ những lời tự ca ngợi.

Không chỉ trong văn hóa Việt Nam, nhiều nền văn hóa trên thế giới cũng có những câu nói mang ý nghĩa tương tự để đề cao sự khiêm tốn và phê phán thói khoe khoang.

Trong tiếng Anh có tương tự: “Empty vessels make the most noise”, hàm ý người hiểu biết nông cạn thường thích thể hiện, còn người thực sự có năng lực lại ít khoa trương.

Trong dân gian Trung Quốc cũng lưu truyền nhiều câu nói cùng ý như “一瓶不响,半瓶晃荡”, nghĩa là “Bình đầy thường không phát ra tiếng, còn bình nửa đầy lại dễ lắc và phát ra tiếng động”, hay “半瓶水响叮当”, nghĩa là “Nửa bình nước thì kêu leng keng”. Cả hai đều mượn hình ảnh chiếc bình để ví người có tri thức và năng lực thường điềm tĩnh, khiêm nhường, trong khi người hiểu biết chưa đầy đủ lại dễ thích thể hiện.

Kho tàng tục ngữ Việt Nam cũng có nhiều câu đề cao đức tính khiêm tốn như “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe” hay “Một lần khiêm tốn bằng bốn lần tự cao”.

Dù cách diễn đạt khác nhau, các nền văn hóa đều gặp nhau ở một điểm chung: người càng có tri thức và bản lĩnh thường càng khiêm nhường, còn sự phô trương hiếm khi phản ánh đúng năng lực thực sự.

Đến nay, “thùng rỗng kêu to” vẫn là lời nhắc về cách ứng xử trong cuộc sống. Giá trị của mỗi con người không nằm ở những lời tự khẳng định mà được thể hiện qua tri thức, năng lực và cách ứng xử. Khi thực lực đủ đầy, con người không cần phải “kêu to” để được công nhận; chính việc làm và những đóng góp thiết thực sẽ tự lên tiếng.

Diệu Hân

Nguồn VTC: https://vtcnews.vn/cau-thung-rong-keu-to-co-y-nghia-gi-ar1028438.html