Chậm nhịp với công nghệ sẽ mất lợi thế cạnh tranh
Mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để kiến tạo nền tảng tự chủ công nghệ quốc gia đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc làm chủ các công nghệ lõi, công nghệ chiến lược. Tuy nhiên, tiến trình này đang vấp phải nhiều rủi ro và lực cản lớn khi vòng đời công nghệ ngày càng ngắn lại mà quy trình đầu tư vẫn còn kéo dài.

Công nghệ không thể tự tạo ra đột phá mà con người mới là yếu tố quyết định
Rủi ro "kéo lùi" tốc độ phát triển
Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 nhằm phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, quyết định nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh quốc gia; đóng góp trực tiếp vào phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Đồng thời, phát triển tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam đạt mức tiên tiến trong một số lĩnh vực quan trọng; hình thành năng lực làm chủ và phát triển một số công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, tạo nền tảng cho tự chủ công nghệ quốc gia.
Để đạt được mục tiêu này, theo các chuyên gia, trong bối cảnh rủi ro thương mại và địa chính trị khó dự báo, đầu tư công cần được đẩy nhanh nhưng phải "nhanh hơn và thông minh hơn. Ưu tiên tập trung là hạ tầng số, hạ tầng năng lượng và hạ tầng đổi mới sáng tạo để tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.
Tuy nhiên, vòng đời công nghệ ngày càng ngắn trong khi quy trình đầu tư còn kéo dài, nếu chậm một nhịp sẽ làm mất lợi thế, chậm một nhịp, đất nước sẽ bỏ lỡ cơ hội phát triển.
Khi đặt kế hoạch đầu tư công 2026 - 2030 trong “trục” Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, ĐBQH Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội nhận thấy còn một số thách thức mới chưa được chỉ ra đầy đủ. Trước hết, đó là rủi ro lạc hậu công nghệ và lãng phí dự án số khi vòng đời công nghệ ngắn nhưng quy trình đầu tư dài. Khoảng trống thể chế cho đầu tư tài sản vô hình (dữ liệu, phần mềm lõi, thuật toán, sở hữu trí tuệ), thiếu cơ chế đặt hàng, khoán chi, mua sắm theo kết quả sẽ làm chuyển đổi số bị “kéo lùi”, khó tạo năng suất. Rủi ro an ninh mạng và chủ quyền dữ liệu: càng số hóa sâu, bề mặt tấn công càng lớn; sự cố mạng có thể làm gián đoạn dịch vụ công và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đáng chú ý là thách thức từ thiếu nhân lực chất lượng cao và năng lực quản trị dự án số/khoa học công nghệ ở cả trung ương và địa phương, nhất là cấp tỉnh; đầu tư tiền mà thiếu người sẽ “đứt gãy” vận hành.
Cùng chung nhận định này, ĐBQH Nguyễn Thị Lan (Hà Nội) khẳng định, công nghệ không thể tự tạo ra đột phá mà con người mới là yếu tố quyết định. Đại biểu dẫn chứng như các nước Hàn Quốc, Israel và Singapore đều đi trước một bước trong việc phát triển nhân lực chất lượng cao. Họ không chỉ đào tạo người giỏi chuyên môn mà còn hình thành đội ngũ có khả năng kết nối nghiên cứu với thị trường để tạo giá trị gia tăng bền vững. Còn tại Việt Nam, "điểm nghẽn" lớn nhất hiện nay là thiếu lực lượng nhân lực có khả năng tạo ra đột phá thực chất. Những thiếu hụt cụ thể bao gồm: thiếu chuyên gia làm chủ công nghệ lõi, thiếu các nhà khoa học có khả năng dẫn dắt, thiếu nhân lực để khai thác hiệu quả dữ liệu, đặc biệt là thiếu đội ngũ có thể đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường. Sự thiếu hụt này dẫn đến hệ quả là kết nối giữa cơ quan quản lý, viện trường và doanh nghiệp còn lỏng lẻo do thiếu đội ngũ điều phối, dẫn dắt hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Dẫn chứng từ ngành nông nghiệp có thể thấy, mặc dù chúng ta có nhiều kết quả nghiên cứu về giống cây trồng, vật nuôi, công nghệ sinh học và nông nghiệp số, nhưng việc thương mại hóa còn rất khiêm tốn. Nhiều mô hình chỉ dừng lại ở quy mô thí điểm, không thể nhân rộng. Nguyên nhân cốt lõi, theo đại biểu, là do thiếu "nhân lực tích hợp", những người vừa làm chủ công nghệ, vừa hiểu thị trường và có khả năng tổ chức triển khai quy mô lớn. Trong khi đó, các nước như Hà Lan hay Israel đã bứt phá nhờ xây dựng được chính lực lượng này, ĐBQH Nguyễn Thị Lan cho biết.

Phát triển nhân lực và mô hình quản trị
Để vượt qua các thách thức, ĐBQH Nguyễn Thị Lan cho rằng cần thay đổi cách tiếp cận đào tạo, không đào tạo đại trà mà tập trung xây dựng lực lượng nòng cốt làm chủ công nghệ lõi. Theo đó cần cụ thể hóa nội dung phát triển nhân lực cho các lĩnh vực lợi thế như nông nghiệp, môi trường, công nghệ sinh học và kinh tế xanh; sớm triển khai các chương trình đào tạo nhân lực nòng cốt cấp quốc gia gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và địa phương; rà soát, cập nhật danh mục công nghệ chiến lược để tập trung nguồn lực triển khai thực chất.
Bên cạnh đó, ĐBQH Trần Văn Khải cũng đề xuất xem xét một mô hình quản trị dự án mới theo hướng thông minh và hiệu quả như tập trung vào nền tảng dùng chung, tránh đầu tư trùng lặp và yêu cầu dữ liệu phải "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất". Triển khai theo mô đun và tiêu chuẩn mở, nghiệm thu dựa trên chỉ số đầu ra thực tế và áp dụng mua sắm theo kết quả để rút ngắn chu kỳ đầu tư, giảm rủi ro lạc hậu. Hoàn thiện khung pháp lý cho "Sandbox" theo hướng cho phép thử nghiệm có kiểm soát đối với các nhiệm vụ khoa học công nghệ, dữ liệu và nền tảng số, đồng thời, cần có cơ chế bảo vệ cán bộ dám đổi mới vì lợi ích chung. Ngoài ra, gắn trách nhiệm và thẩm định xanh, coi an ninh mạng là cấu phần bắt buộc ngay từ khâu thiết kế dự án và bắt buộc thẩm định nhu cầu điện và hiệu suất năng lượng cho các dự án số quy mô lớn.
Xa hơn, ĐBQH Nguyễn Đại Thắng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Công tác đại biểu nhấn mạnh, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, cần chuyển mạnh mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, lấy năng suất, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực trung tâm. Đai biểu đề nghị tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển lên ít nhất 1,5% GDP, khuyến khích doanh nghiệp trích Quỹ khoa học công nghệ, miễn thuế cho hoạt động nghiên cứu ứng dụng; xây dựng Quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo quốc gia để hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ, công nghiệp hỗ trợ và chuyển đổi số. Thu hút đầu tư nước ngoài cần chuyển từ thu hút theo số lượng sang chất lượng, ưu tiên các dự án có cam kết chuyển giao công nghệ, sử dụng nguồn nhân lực trong nước và liên kết với doanh nghiệp nội địa; xây dựng chính sách đột phá để thu hút chuyên gia trong và ngoài nước tham gia phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.
Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/cham-nhip-voi-cong-nghe-se-mat-loi-the-canh-tranh-180921.html











