Chăm sóc khỏe học đường, tạo nguồn lực cho kỷ nguyên mới
Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội, là nền tảng cốt lõi cho sự phát triển bền vững của đất nước. Trong quá trình phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước luôn coi bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe trẻ em, học sinh, sinh viên là nhiệm vụ đặc biệt ưu tiên để phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ và tinh thần của thế hệ tương lai.
Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo xác định “Ban hành quy định của pháp luật để nâng cao dinh dưỡng học đường và thể chất người Việt Nam”.

Các em học sinh được khám sàng lọc tật khúc xạ. Ảnh minh họa: Diệp Anh/TTXVN
Sức khỏe học đường là yếu tố quyết định
Nhiều nước trên thế giới đã lấy trường học là nơi để tập trung nâng cao sức khỏe, thay đổi hành vi lối sống cho thế hệ tương lai thông qua việc phát triển giáo dục thể chất, rèn luyện sức khỏe, kỹ năng sống, đặc biệt là truyền thông, giáo dục về dinh dưỡng và đảm bảo dinh dưỡng hợp lý, kết hợp với tăng cường các hoạt động thể lực. Tại Việt Nam, bảo đảm dinh dưỡng hợp lý và thể chất vững chắc cho trẻ em được ngành giáo dục, ngành y tế xác định là chiến lược hàng đầu, trong đó việc tập trung chăm sóc trẻ trong giai đoạn vàng “1.000 ngày đầu đời” và giai đoạn học đường là nền móng cốt lõi, quyết định tới khả năng phát triển tầm vóc, tinh thần và trí tuệ của trẻ trong tương lai.
Theo báo cáo của Bộ Y tế, sau 10 năm thực hiện Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng 2011-2020, tình trạng dinh dưỡng của trẻ em lứa tuổi tiền học đường và học đường đã được cải thiện, giảm suy dinh dưỡng thấp còi đã góp phần cải thiện chiều cao của thanh niên Việt Nam. Tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi của trẻ dưới 5 tuổi đang giảm dần, từ 29,3% năm 2010 xuống còn 19,6%, chuyển từ mức cao sang mức trung bình theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới về vấn đề sức khỏe cộng đồng. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ học đường (5-19 tuổi) là 14,8% (so với năm 2010 là 23,4%).
Thành tựu rõ nét nhất là sự cải thiện chiều cao của thanh niên Việt Nam. Chiều cao trung bình của nam thanh niên 18 tuổi đạt 168,1 cm (tăng 3,7 cm so với năm 2010), nữ đạt 156,2 cm (tăng 2,6 cm). Đây là kết quả của một quá trình can thiệp dinh dưỡng bền bỉ qua nhiều thế hệ, giúp Việt Nam không còn thuộc nhóm "lùn nhất Đông Nam Á". Hiện Việt Nam đứng thứ 4 về chiều cao trung bình trong khu vực, sau Singapore, Malaysia và Thái Lan.
Việt Nam cũng tăng tỷ lệ học sinh hoạt động thể lực đủ so với khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới. Theo báo cáo khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu năm 2019, học sinh 13-17 tuổi ở Việt Nam, cứ 4 em có 1 em (24,1%) có hoạt động thể chất đủ so với khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (ít nhất 60 phút/ngày từ 5 ngày trong 1 tuần). Đây là một sự thay đổi tích cực so với tỷ lệ của năm 2013 (20,5%).
Tuy nhiên, công tác chăm sóc dinh dưỡng, thể chất cho trẻ em lứa tuổi học đường tại Việt Nam đang tồn tại nhiều bất cập. Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi hiện ở mức 7,4%, trong đó ở khu vực thành thị là 9,8%, nông thôn là 5,3%. Đáng chú ý, ở nhóm trẻ học đường từ 5 - 19 tuổi, tỷ lệ thừa cân, béo phì gia tăng nhanh, gấp đôi sau 10 năm, đạt 19% vào năm 2020; riêng tại khu vực thành thị và các vùng phát triển lên tới 26,8%. Tình trạng này kéo theo nguy cơ gia tăng các rối loạn chuyển hóa dinh dưỡng và bệnh không lây nhiễm ở học sinh. Thiếu vi chất dinh dưỡng vẫn phổ biến và khá cao, nhất là ở nhóm đối tượng có nguy cơ cao và ở vùng khó khăn, vùng sâu vùng xa, vùng có tỷ lệ thiếu vi chất dinh dưỡng cao.
Chất lượng bữa ăn học đường chưa đồng đều, thiếu cân đối khi thiếu về số lượng, mất cân đối về chất lượng còn tồn tại ở một số vùng, đặc biệt vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Tình trạng ăn uống bất hợp lý, không cân đối các chất dinh dưỡng tại vùng đô thị do xu hướng ăn nhiều các loại thực phẩm tinh chế, thực phẩm chế biến sẵn, đồ ăn nhanh và nước uống có đường đã và đang hình thành những thói quen ăn uống không lành mạnh làm gia tăng các rối loạn chuyển hóa dinh dưỡng và các bệnh không lây nhiễm. Đặc biệt, chương trình giáo dục dinh dưỡng, bữa ăn học đường chưa có sự chuẩn hóa, đồng bộ nên việc tổ chức, quản lý, giám sát bữa ăn học đường và triển khai hoạt động dinh dưỡng học đường vẫn còn nhiều hạn chế.
Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Đỗ Vân Anh (Khoa Dinh dưỡng học đường và ngành nghề, Viện Dinh dưỡng, Bộ Y tế) nhận định, vấn đề trở nên phức tạp hơn khi nước ta đối mặt với “gánh nặng kép về dinh dưỡng”, tức là sự tồn tại đồng thời của suy dinh dưỡng và thừa cân, béo phì trong cùng một quần thể. Đây cũng là xu hướng phổ biến tại các quốc gia đang phát triển trong quá trình chuyển dịch dinh dưỡng, gắn liền với đô thị hóa, tăng trưởng kinh tế và biến đổi hệ thống thực phẩm. Kết quả khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại Việt Nam cho thấy gần 80% học sinh không đạt mức hoạt động thể chất khuyến nghị…
Phát triển toàn diện thế hệ trẻ Việt Nam
Hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân (7/4) năm 2026 với chủ đề “Chủ động phòng bệnh - Vì một Việt Nam khỏe mạnh”, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Y tế rà soát lại chương trình giáo dục thể chất, quan tâm sát sao đến dinh dưỡng học đường, vệ sinh trường học; đưa nội dung giáo dục kỹ năng bảo vệ sức khỏe trở thành môn học thiết thực, rèn luyện cho thế hệ trẻ ngay từ cấp giáo dục mầm non và phổ thông.
Thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngành Giáo dục đã triển khai nhiều chương trình chăm sóc sức khỏe học đường, giáo dục dinh dưỡng và tăng cường hoạt động thể lực cho học sinh, sinh viên; từng bước xây dựng môi trường giáo dục toàn diện, lấy người học làm trung tâm. Các mô hình bữa ăn học đường bảo đảm dinh dưỡng hợp lý kết hợp tăng cường vận động đã bước đầu mang lại hiệu quả tích cực, góp phần cải thiện tình trạng dinh dưỡng, nâng cao tỷ lệ học sinh tham gia hoạt động thể chất thường xuyên. Công tác phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe học sinh, sinh viên, giáo dục thể chất và thể thao trường học đang từng bước trở thành những trụ cột quan trọng trong giáo dục toàn diện, góp phần hình thành thói quen vận động, lối sống lành mạnh và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai.
Ông Nguyễn Nho Huy, Phó Vụ trưởng Vụ Học sinh sinh viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết giai đoạn 2025-2035, Bộ xác định chăm sóc sức khỏe học đường, dinh dưỡng và giáo dục thể chất là những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao thể lực, tầm vóc học sinh.
Bộ sẽ phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế cùng các bộ, ngành, địa phương để trình Thủ tướng phê duyệt Chương trình "Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035" và đề án "Đổi mới công tác giáo dục thể chất và thể thao trường học giai đoạn 2026-2035”. Một trong những nội dung đáng chú ý là ngành giáo dục tăng cường kiểm soát chất lượng bữa ăn bán trú, an toàn thực phẩm, đánh giá dinh dưỡng học sinh và triển khai sổ sức khỏe điện tử trong trường học.
Bộ cũng định hướng xây dựng thực đơn dinh dưỡng thống nhất trên toàn quốc, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản lý sức khỏe học sinh, tăng đầu tư cho bếp ăn bán trú, sân chơi, công trình thể thao và y tế trường học.
Hệ thống chính sách liên quan đến chăm sóc sức khỏe học sinh, dinh dưỡng học đường và tổ chức bữa ăn bán trú sẽ được rà soát, sửa đổi theo hướng đồng bộ hơn, ưu tiên cho vùng sâu, vùng xa và khu vực khó khăn. Công tác kiểm tra, giám sát điều kiện vệ sinh trường học và an toàn thực phẩm sẽ được siết chặt nhằm hạn chế nguy cơ mất an toàn trong bữa ăn học đường.
Trong lĩnh vực giáo dục thể chất, ngành giáo dục định hướng đổi mới theo hướng tăng tính tự chọn, đa dạng môn thể thao phù hợp với điều kiện từng địa phương và sở thích học sinh. Mục tiêu đặt ra là mỗi học sinh tham gia ít nhất một hoạt động thể chất phù hợp. Để triển khai hiệu quả, Bộ Giáo dục và Đào tạo kiến nghị Chính phủ chỉ đạo xây dựng và ban hành đồng bộ các chính sách quốc gia về sức khỏe học đường theo hướng tích hợp dinh dưỡng – vận động – thể thao học đường, bảo đảm tính thống nhất, liên thông giữa các chương trình, đề án hiện hành. Qua đó tạo nền tảng phát triển toàn diện thể chất, tầm vóc và chất lượng nguồn nhân lực quốc gia.
Bộ Y tế ban hành hướng dẫn chuyên môn về dinh dưỡng, sức khỏe tâm thần, sức khỏe sinh sản và phòng chống bệnh học đường. Các địa phương bố trí kinh phí, huy động nguồn lực, đẩy mạnh xã hội hóa phù hợp với điều kiện của địa phương bảo đảm điều kiện tối thiểu để học sinh được học tập, chăm sóc sức khỏe và rèn luyện thể chất thường xuyên.











