Châu Âu và cuộc chiến Trung Đông

Châu Âu đang ở vị thế vô cùng khó xử trong cuộc xung đột Mỹ/Israel - Iran. Họ vừa không phải là bên ra quyết định có ảnh hưởng đến cuộc chiến, vừa không phải là bên trung gian hòa giải có ảnh hưởng đáng kể. Châu Âu chỉ là bên ngoài cuộc, bất lực trong việc can thiệp và là nạn nhân gánh chịu những tổn thất không ngừng lan rộng.

An ninh cùng những bất ổn liên đới

Xung đột ở Trung Đông đã làm trầm trọng thêm tình hình an ninh vốn đã mong manh của châu Âu. Thứ nhất, chính sách của châu Âu nhằm hỗ trợ Ukraine chống Nga đang đối mặt với những thách thức đáng kể. Sự bùng nổ của cuộc chiến tranh Mỹ/Israel - Iran làm các nguồn lực an ninh của phương Tây, đặc biệt là từ Mỹ, chuyển hướng sang Trung Đông.

Về khách quan, điều này khiến Ukraine rơi vào thế bất lợi hơn trong cuộc xung đột với Nga. Đại điện cấp cao của Liên minh châu Âu (EU) về chính sách đối ngoại và an ninh, bà Kaja Kallas tuyên bố cả Trung Đông và Ukraine đều đang tranh giành cùng một nguồn lực và “trọng tâm chính của Mỹ là Trung Đông”.

Xung đột Trung Đông khiến nguồn hàng khan hiếm, buộc Mỹ phải nới lỏng lệnh trừng phạt đối với dầu mỏ của Nga.

Xung đột Trung Đông khiến nguồn hàng khan hiếm, buộc Mỹ phải nới lỏng lệnh trừng phạt đối với dầu mỏ của Nga.

Theo dự báo của các viện nghiên cứu Mỹ, năng lực sản xuất tên lửa Patriot của Mỹ là 270 quả/năm, nhưng chỉ trong chưa đầy 2 tuần kể từ khi xung đột Trung Đông bùng nổ, Mỹ và các đồng minh Vùng Vịnh đã tiêu thụ hơn 1.000 quả. Tổng thống Ukraine Zelensky cũng công khai thừa nhận xung đột Trung Đông đã khiến kho vũ khí của Mỹ nhanh chóng cạn kiệt và làm giảm cơ hội của Ukraine nhận được thêm viện trợ quân sự. Trước đó, Ukraine bày tỏ sẵn sàng cử một đội chống máy bay không người lái đến Trung Đông để đổi lấy việc Mỹ tiếp tục viện trợ, nhưng ông Trump đã bác bỏ đề nghị này.

Cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu do chiến tranh gây ra đang gây bất lợi cho Ukraine. Giá năng lượng toàn cầu tăng cao không chỉ mang lại nhiều doanh thu hơn cho Nga mà còn khiến các lệnh trừng phạt năng lượng của phương Tây đối với Nga trở nên phi lý và không bền vững hơn. Điều này buộc Mỹ phải tuyên bố nới lỏng lệnh trừng phạt đối với dầu mỏ của Nga.

Về khách quan, động thái này khiến các lệnh trừng phạt năng lượng đơn phương của châu Âu đối với Nga khó có thể được thực hiện và làm giảm đáng kể khó khăn của Moscow trong việc né tránh các lệnh trừng phạt. Dữ liệu từ hệ thống theo dõi hàng hóa của công ty phân tích năng lượng Kpler (Bỉ) cho thấy một lượng lớn các sản phẩm dầu thô của Nga hiện đang lênh đênh trên biển, trong đó phần lớn đang vượt qua Ấn Độ Dương để đến các cảng của Ấn Độ.

Cùng với đó, các cuộc thảo luận về việc đồng thời nới lỏng các lệnh trừng phạt cũng đã nổi lên ở châu Âu, thậm chí trong chuyến thăm Pháp ngày 14/3, ông Zelensky còn công khai đặt câu hỏi khó với Tổng thống Pháp Macron rằng “liệu châu Âu đã đạt được sự đồng thuận về việc nới lỏng các lệnh trừng phạt đối với Nga chưa?”.

Thứ hai, vị thế đồng minh an ninh của Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đang lung lay mạnh. Kể từ khi tái đắc cử, ông Trump thường xuyên đặt câu hỏi về giá trị của NATO đối với Mỹ, cho rằng khi nước này có nhu cầu thì các đồng minh NATO không ủng hộ. Những diễn biến cuộc xung đột ở Trung Đông dường như lại càng cung cấp một ví dụ chính xác cho quan điểm này. Trong cuộc phỏng vấn với Báo Financial Times ngày 15/3, ông Trump tuyên bố NATO vẫn luôn là “còn đường một chiều”.

Ông phàn nàn rằng, các đồng minh châu Âu đã không đứng về phía Mỹ trong các vấn đề Trung Đông, thậm chí còn tuyên bố một cách khiêu khích rằng Anh có thể gửi 2 tàu để chia sẻ chiến lợi phẩm sau khi mối đe dọa từ Iran bị tiễu trừ. Ông Trump thậm chí còn đe dọa rằng NATO sẽ phải đối mặt với “tương lai rất tồi tệ” nếu các đồng minh của Mỹ không hỗ trợ nước này trong việc mở eo biển Hormuz.

Thứ ba, an ninh biên giới của châu Âu ngày càng chịu áp lực. Khi môi trường an ninh xung quanh suy yếu, những áp lực an ninh đến từ bên ngoài mà châu Âu đang phải đối mặt cũng ngày một tăng lên. Khi căn cứ quân sự của Anh ở đảo Síp bị trúng tên lửa của Iran, vấn đề này càng trở nên được quan tâm và gây ra lo ngại khắp châu Âu, buộc nhiều quốc gia ở châu lục này phải triển khai các hoạt động quân sự phòng thủ, đồng thời tăng cường sự hiện diện quân sự ở khu vực vành đai. Về mặt xã hội, sau khi xung đột bùng nổ, Cơ quan Cảnh sát Liên minh châu Âu (Europol) đã cảnh báo rằng xung đột Trung Đông có thể tác động trực tiếp đến xã hội EU, làm leo thang nhiều mối đe dọa an ninh như khủng bố, tội phạm mạng, chủ nghĩa cực đoan bạo lực. Bất ổn khu vực cũng có thể làm tăng áp lực dòng người tị nạn đổ về châu Âu. Quỹ RFBerlin (Đức) cho hay Đức sẽ trở thành điểm đến phổ biến nhất cho người Iran nếu muốn tránh xung đột, với tỷ lệ 28% người Iran được hỏi cho biết họ muốn tìm kiếm tị nạn ở quốc gia này.

Nền kinh tế chảy máu

Cuộc chiến Mỹ/Israel - Iran đã khiến châu Âu không còn đường lui trong chính sách năng lượng và không còn chỗ cho sự tăng trưởng kinh tế. Kể từ khi xung đột Nga - Ukraine bùng nổ, châu Âu đã theo đuổi chính sách tách khỏi Nga trong lĩnh vực năng lượng, theo đó việc thiết lập quan hệ đối tác năng lượng với các quốc gia Trung Đông là một bước đi quan trọng. Sau khi chiến tranh Mỹ/Israel - Iran bùng nổ, châu Âu buộc phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt hơn trên thị trường năng lượng toàn cầu, nguy cơ khủng hoảng năng lượng của lục địa này cũng tăng lên.

Đầu tiên là vấn đề thiếu hụt khí đốt. Lượng dự trữ khí đốt tự nhiên của châu Âu vào đầu năm 2026 thấp hơn nhiều so với mức trung bình những năm gần đây. Tính đến cuối tháng 2/2026, châu Âu chỉ còn 46 tỷ m3, trong khi năm 2025 là 60 tỷ m3 và năm 2024 là 77 tỷ m3. Trong bối cảnh việc vận chuyển khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) bị hạn chế qua eo biển Hormuz, châu Âu buộc phải cạnh tranh năng lượng với các khách hàng từ các khu vực khác trên thị trường giao ngay. Tổ chức SEB Research (Thụy Điển) dự đoán, sự cạnh tranh từ các nền kinh tế châu Á có thể khiến châu Âu mất khoảng 5,5 triệu tấn LNG.

Thứ nữa là vấn đề giá dầu cao. Dữ liệu từ Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) cho thấy nguồn cung dầu toàn cầu giảm 8 triệu thùng mỗi ngày trong tháng 3. Khi cuộc chiến bước sang tuần thứ 3, giá dầu quốc tế vẫn duy trì ở mức trên 100 USD/thùng. Chịu ảnh hưởng từ hiệu ứng lan tỏa, chi phí năng lượng của châu Âu đã tăng đáng kể, thậm chí đứng trên bờ vực khủng hoảng.

Căn cứ Hải quân Rota của Tây Ban Nha, từng nhận được khoản đầu tư 200 triệu USD của Mỹ, đã từ chối tham gia hỗ trợ hoạt động quân sự nhắm vào Iran.

Căn cứ Hải quân Rota của Tây Ban Nha, từng nhận được khoản đầu tư 200 triệu USD của Mỹ, đã từ chối tham gia hỗ trợ hoạt động quân sự nhắm vào Iran.

Ngày 11/3, tại Nghị viện châu Âu (EP), Chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) Ursula von der Leyen tuyên bố chỉ trong hơn 10 ngày kể từ khi xung đột bùng nổ, người đóng thuế châu Âu đã phải gánh thêm 3 tỷ euro chi phí cho việc nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch. Trong bối cảnh châu Âu chủ động tách khỏi Nga trong lĩnh vực năng lượng, họ có thể phải đối mặt với một viễn cảnh mới, với đặc trưng “tách khỏi Trung Đông một cách bị động” và “Mỹ là kẻ thống trị”, kết quả là cấu trúc năng lượng vốn đã dễ tổn thương của châu Âu lại càng trở nên yếu kém.

Chi phí năng lượng tăng cao là một đòn chí mạng đối với nền kinh tế vốn đã phải chịu nhiều áp lực của châu Âu. Ủy viên kinh tế EC Valdis Dombrovskis tuyên bố việc giá dầu Brent duy trì ở mức 100 USD/thùng có nghĩa là lạm phát của EU sẽ vượt quá 3% vào năm 2026, đồng thời tăng trưởng kinh tế năm 2026 sẽ thấp hơn 0,4 điểm phần trăm so với mức dự báo trước đó là 1,4%.

Nhà kinh tế học nổi tiếng người Đức Veronika Grimm viết trên tờ Handelsblatt (Đức): “Điều này có nghĩa là hy vọng về sự phục hồi kinh tế của người dân đã tan biến một lần nữa”. Ngoài ra, chiến sự ở Trung Đông cũng sẽ đẩy chi phí vận chuyển hàng hóa toàn cầu lên cao và gây đứt gãy thương mại, đây cũng là tin xấu đối với thị trường thương mại lớn như châu Âu.

Vị thế chính trị suy giảm

Tình trạng chia rẽ là điều người ta có thể nhìn thấy rõ nhất từ cuộc chiến ở Trung Đông lần này đối với châu Âu. Sau các cuộc tấn công của Mỹ và Israel, Tây Ban Nha là nước đầu tiên tuyên bố phản đối cuộc tấn công nhằm vào Iran và từ chối để Mỹ sử dụng căn cứ hải quân Rota và căn cứ không quân Moron ở nước này cho bất kỳ hành động quân sự nào chống lại Iran, đồng thời triệu hồi vô thời hạn Đại sứ của mình tại Israel.

Các nước như Pháp, Hà Lan... cũng bắt đầu đặt câu hỏi liệu hành động của Mỹ và Israel có “vi phạm luật pháp quốc tế” hay không. Tuy nhiên, lập trường của một số nhà lãnh đạo EU, Đức, Anh và một số nước khác lại có phần mơ hồ. Bà Ursula von der Leyen tuyên bố: “Không cần phải rơi nước mắt trước sự sụp đổ của chế độ Iran”.

Thủ tướng Đức Friedrich Merz cũng tuyên bố không thể lên án Mỹ, đồng thời khi gặp Tổng thống Mỹ tại Nhà Trắng, ông đã giữ im lặng khi ông Trump công khai chỉ trích Tây Ban Nha, Anh và đe dọa leo thang chiến tranh thương mại chống châu Âu. Điều này không chỉ làm suy yếu đáng kể vai trò lãnh đạo của Đức trong EU, mà còn khiến chính ông Merz phải chịu nhiều chỉ trích gay gắt trong EU và ở Đức.

Cuộc xung đột Trung Đông cũng làm lộ rõ hơn những mâu thuẫn nội bộ của EU. Kaja Kallas, Đại diện cấp cao về chính sách đối ngoại và an ninh của EU, đáng lẽ phải là người phát ngôn về chính sách đối ngoại của EU, tuy nhiên, sau khi chiến sự nổ ra tại Trung Đông, bà Ursula von der Leyen lại đi tiên phong với việc tiến hành hàng chục cuộc điện đàm với các nhà lãnh đạo của EU và các nước Trung Đông. Theo đó, lập trường công khai của bà Ursula von der Leyen vượt xa sự đồng thuận của các quốc gia thành viên EU. Điều này đã khiến bà Kaja Kallas và nhiều quốc gia thành viên EU tỏ ra không hài lòng, đồng thời công khai phơi bày sự bất đồng lâu nay giữa hai bà Ursula von der Leyen và Kaja Kallas.

Bà Kaja Kallas, đại điện cấp cao của Liên minh châu Âu (EU) về chính sách đối ngoại và an ninh, nhiều lần chỉ trích Mỹ/Israel về các vấn đề liên quan đến nhân đạo tại Gaza.

Bà Kaja Kallas, đại điện cấp cao của Liên minh châu Âu (EU) về chính sách đối ngoại và an ninh, nhiều lần chỉ trích Mỹ/Israel về các vấn đề liên quan đến nhân đạo tại Gaza.

Đó là chưa kể, uy tín của châu Âu với tư cách là bên trung gian ngoại giao đã bị tổn hại. Trong vấn đề hạt nhân Iran, châu Âu luôn đóng vai trò là bên trung gian đáng tin cậy giữa Mỹ và Iran, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi đến Kế hoạch Hành động chung toàn diện (JCPOA) năm 2015 về vấn đề hạt nhân Iran. Tuy nhiên, trong cuộc xung đột Trung Đông hiện nay, châu Âu không chỉ mất đi sự hiện diện và ảnh hưởng trong khu vực mà còn mất đi cả lòng tin từ phía Iran.

Ngày 12/3/2026, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Iran công khai tuyên bố: “Sự thờ ơ và ngầm chấp thuận của EU đối với sự xâm lược và hành vi bạo lực của Mỹ và Israel tương đương với sự đồng lõa”. Trong cuộc xung đột lần này, châu Âu không còn có thể đóng vai trò trung lập trong việc làm trung gian hòa giải, ảnh hưởng khu vực của châu Âu chắc chắn sẽ bị suy giảm đáng kể. Josep Borrell Fontelles, người từng là Đại diện cấp cao của EU về chính sách đối ngoại và an ninh, cũng cho rằng EU cần lên án rõ ràng hơn trước các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế, “cho dù việc lên án đó nhằm vào Nga, Israel hay Mỹ” và “việc áp dụng luật pháp quốc tế một cách chọn lọc sẽ làm EU mất uy tín”.

Rõ ràng, trong thời đại của cạnh tranh nước lớn khốc liệt, châu Âu tiếp tục phải đối mặt với tình cảnh bị động chiến lược, tổn thất lợi ích, kéo dài và sự suy giảm vị thế địa chính trị ở cả 3 hướng Đông, Tây và Nam. Đối với châu Âu, tổn thất được cho là đau đớn nhất chính là việc mất dần khả năng bảo vệ lợi ích của chính mình và sự coi trọng như vốn có.

Huy Thông

Nguồn ANTG: https://antg.cand.com.vn/su-kien-binh-luan-antg/chau-au-va-cuoc-chien-trung-dong-i803660/